View Single Post
  #6  
Cũ 04-06-2011, 08:53
minminixi minminixi is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: May 2010
Bài viết: 1,145
Cảm ơn: 1,600
Được cảm ơn 2,176 lần trong 833 bài đăng
Default

Xin trình các bác phần đầu của "Dãy Trường Sơn" bằng tiếng Việt:

Dãy Trường Sơn
Địa danh nổi tiếng của thiên nhiên Việt Nam gồm tập hợp nhiều dải núi lớn nhỏ phân bố dọc theo phần giữa hẹp và dài của đất nước, tạo nên khoảng 2/3 địa hình đồi núi trên lãnh thổ. Khởi đầu là các dãy núi có hướng TB-ĐN tại miển Trung VN với một số đỉnh rời bên rìa nằm trên đồng bằng hẹp và bờ biển, có hai đoạn chắn hoàn toàn tại Đèo Ngang (Quảng Bình) và Hải Vân. Từ Nam Trung Bộ, các dải núi thuộc dãy Trường Sơn có hướng chính Bắc-Nam, tách hai nhánh bọc lấy Tây nguyên và chấm dứt tại phần bắc Bình Thuận giáp với vùng Đông Nam Bộ.

Mục lục:
1.Nguồn gốc tên gọi
2.Vì trí địa lý
3.Trường Sơn Bắc
4.Trường Sơn Nam
5.Nguồn gốc hình thành
6.Đặc điểm dân cư và văn hóa
7.Danh lam thắng cảnh
8.Vấn đề bảo tồn
9.Tham khảo
10.Xem thêm

Nguồn gốc tên gọi
Trong “Đại Việt sử ký toàn thư” có nhắc đến ngọn núi Dạ Sơn, một đỉnh núi lẻ tại Diễn Châu-Nghệ An, nơi Vua An Dương Vương chém con gái là công chúa Mỵ Châu rồi tuẫn tiết (năm 208 TCN). Các ghi chép về thời kỳ Bắc thuộc sau đó gọi dãy núi Đèo Ngang là Nam Giới.
Sau khi vượt Đèo Ngang và Hải Vân, từ thế kỷ 11-17 người Việt tộc Kinh dần mở rộng sự có mặt đến Nam Trung Bộ và Nam Bộ. Hoành Sơn trong cổ sử Việt là tên gọi dãy núi ngang đâm ra biển tại ranh giới giữa Quảng Bình và Hà Tĩnh ngày nay, tại vị trí Đèo Ngang.
Dân tộc Kinh lập quốc (từ thế kỷ 10) tại khu vực đồng bằng Bắc Bộ đến bắc Hoành Sơn, còn từ nam Hoành Sơn trở vào là xứ Chiêm Thành, sau lùi vào phía nam Hải Vân có tên là Lâm Ấp rồi Hoàn Vương trong thư tịch Trung Hoa.
Thời tiền Lê (đầu thế kỷ 15), vùng rừng núi phía Tây Thanh Hóa được gọi là châu Ngọc Ma. Tại sắc dụ của vua Lê Nhân Tông khi chinh phạt Chiêm Thành phía Nam (1470) gọi khu vực Đèo Ngang là Hoành sơn – núi ngang –. Đời Lê Kính Tông cũng nhắc đến Hoành Sơn là nơi xa xôi hiểm trở (năm 1600).
Trong văn khố thời Pháp thuộc (thế kỷ 19-20) dải núi từ Thanh Hóa trở vào nam được gọi chung là “dãy núi Annam – annamese mountains”, hoặc là “dãy núi Trung Kỳ”.
Như vậy, cho đến nửa đầu thế kỷ 20, dải rừng núi từ phía Tây nam Thanh Hóa trở vào hầu như không có dân tộc Kinh sinh sống. Một số quan lộ hiểm trở thông thương với Ai Lao (nước Lào ngày nay) tại Mang Cốc-Trịnh Cao, vùng núi Linh Sơn (Chí Linh). Do nhiều sườn núi dốc và rừng rậm nhiệt đới, nhiều thú rừng và độc vật, con người khó sống, dãy núi này được coi như nơi “thâm sơn cùng cốc”, tạo biên giới tự nhiên giữa dân Việt sống trên đồng bằng ven biển với Lào-Campuchia sâu trong bán đảo Đông Dương, không thấy ghi nhận chính thức và không có tên gọi chung trước thế kỷ 19.
Tên Trường Sơn – núi dài – có sau năm 1945 và nhất là từ những năm 50 được đặt gọi cho những dải núi từ Nghệ An vào phía nam, kéo dài liên tiếp không đứt đoạn. Cho đến nay chưa có kết luận chính xác về tên gọi Trường Sơn xuất hiện khi nào và có giới hạn địa lý ra sao đối với điểm kết thúc. Người Lào gọi đoạn bắt đầu của dãy Trường Sơn là Phou Luang – tức Núi Lớn.
Ngày nay, tên gọi “Trường Sơn” đã bao hàm ý dãy núi phân bố theo chiều dài, vì thế thường được dùng như một tính-danh từ không cần đến từ “dãy” và được ghép trực tiếp với danh từ khác: đường Trường Sơn, Nghĩa trang Trường Sơn, hệ thực vật Trường Sơn…
Đồng danh: Dãy (Dải) Trường Sơn, rặng Trường Sơn (tiếng Việt), Truong Son Range, Annamese Range, Annamese Mountains, Annamese Cordillera (tiếng Anh), Annamite Mountains, Annamite Cordillera, Chaine Annamitique (tiếng Pháp), Say Phou Loang (Phu Luông- Tiếng Lào), хребет Чыонг Шон (tiếng Nga).

Mời các bác góp ý, sau 1 tuần em tiếp tục đưa các mục sau.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn minminixi cho bài viết trên:
Dmitri Tran (05-06-2011), ninh (04-06-2011)