View Single Post
  #12  
Cũ 03-06-2011, 11:27
nqbinhdi nqbinhdi is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Sep 2009
Đến từ: Hanoi
Bài viết: 1,469
Cảm ơn: 1,185
Được cảm ơn 4,002 lần trong 1,122 bài đăng
Default

Kỷ niệm chiến trường

Cuối tháng hai 1979, chúng tôi - tôi và thượng úy PTS Trần Bá Báu - đang công tác trong đội hình Trung đoàn thông tin 604, QK2. Chúng tôi được phân về trung đoàn bộ ngay từ hôm đầu tiên lên tới mặt trận tiền phương (21-2).

Sau ngày 24/2, trung đoàn đã cùng chỉ huy sở tiền phương quân khu rời khỏi khu vực cũ thuộc xã Xuân Quang, huyện Bảo Thắng, tỉnh Hoàng Liên Sơn (bây giờ thuộc tỉnh Lào Cai) trên đường từ ngã ba Cốc Sam trên đường Hữu nghị 7 (nay là đường 70) đi sang ga Phố Lu (ven sông Hồng), rút xuống phía dưới chừng 10 km, đóng tạm ở nhà người dân tộc Dao (Mán) ven đường HN7. Chúng tôi rút lúc 9h tối hôm trước thì 4h sáng hôm sau pháo địch đã bắn trùm vào khu vực đóng quân cũ (vẫn còn lại một bộ phận nhỏ do một thượng úy tiểu đoàn phó chỉ huy giải quyết nốt một số khâu cuối cùng) và đến 10h sáng thì bộ binh địch đã tràn vào nơi đóng quân cũ của trung đoàn bộ. Cái xe com-măng-ca Rumani cũ của trung đoàn chở anh Hộ thượng úy tiểu đoàn phó và nhóm lính cuối cùng của trung đoàn chạy về đến trung đoàn bộ thì đã thấy trên thành xe chi chít vết đạn AK do lính TQ bắn đuổi theo, may mà cả toán không ai bị sao cả. Cơ mà các anh vẫn còn kịp chở theo rất nhiều mía, chặt ở ruộng nhà dân (lúc gặp nhau, chặt một thanh mía đưa cho tôi, anh Hộ hềnh hệch cười bảo "Chặt mang đi hết, không cho bọn Tàu ăn chứ"). Dân và lính ta lúc đó rút đến đâu đều được lệnh không để lương thực thực phẩm lọt vào tay địch - cái mạnh song cũng chính là điểm yếu chết người của bọn Khựa là quân đông (và ô hợp), thiếu lương ăn là chắc do địa hình hiểm trở, đường giao thông thì rút đến đâu công binh ta phá đến đó, không thể tiếp tế kịp.

Được độ một hôm, sau bữa tối Trung đoàn trưởng (anh Quắc) gọi chúng tôi đến bảo rằng hiện giờ từ cánh trái (tả ngạn) sông Hồng chỗ sở chỉ huy tiền phương quân khu bộ sang cánh phải sông Hồng bên mỏ Cam Đường đang mất liên lạc, đã gần 2 hôm rồi. Lính đang cố gắng khắc phục mà chưa được. Trên phòng thông tin quân khu chợt nhớ ra có 2 anh "lính Bộ" là chúng tôi - một kỹ sư và một PTS - nên yêu cầu chúng tôi lên chóp tiếp sức để khắc phục.

Từ cánh trái sông Hồng (chỉ huy sở tiền phương QK) sang cánh phải sông Hồng (nối tới sư đoàn 345 của Đại tá Mai Lan đang quần nhau khốc liệt với cả mấy sư đoàn TQ để giữ mỏ a-pa-tít Cam Đường, nối tiếp sang Sa-pa do sư đoàn 316 anh hùng (thiếu một trung đoàn) đang quần nhau với địch đông gấp 5-6 lần để giữ thị trấn Sa-pa, lúc đó có mấy cách liên lạc: a) Đài vô tuyến tiếp sức (vô tuyến chuyển tiếp, bây giờ hay gọi là máy vi ba) sử dụng máy tiếp sức 2 kênh cao tần P401 của Liên xô; b) Hệ thống chóp vô tuyến 2W sử dụng máy P105Д của Liên xô, gồm các chóp núi nằm thành dãy, chuyển tin điện báo qua từng chóp - rất chậm; c) Liên lạc chạy bộ do quân bưu đảm nhiệm và d) Chuyển tin vòng về bộ Tổng qua hệ thống vô tuyến tiếp sức hoặc tải ba về Hà Nội rồi chuyển bằng đường thông tin từ Hà Nội lên cánh phải sông Hồng - hết sức nhiêu khê và chậm chạp. Đứt đường liên lạc tiếp sức từ cánh trái sang cánh phải do vậy hết sức nghiêm trọng, tướng Vũ Lập, tư lệnh trưởng QK2 hầu như không thể liên lạc để chỉ huy và chi viện cho các sư 345 và 316 được.

Vốn sư 345 khi đó không có trang bị máy tiếp sức, có chiến sự nên BTL Thông tin tăng cường cho sư đoàn một xe P401. Các anh đưa xe lên đi đêm lớ ngớ thế nào lại lọt vào khu vực địch vừa mới chiếm (làm sao mà biết được vì trận tuyến thay đổi từng giờ), bị địch bắn rất rát, may sao chạy được (ban đêm lính Khựa cũng nhát, không dám đuổi theo). Thế nhưng một xe có 2 máy P401 thì sau đó phải chôn một máy xuống, hủy xe vì đã bị pháo địch bắn hỏng, chỉ mang vác một máy di chuyển theo đội hình sư đoàn được (lúc đứt liên lạc, sợ rằng máy mang theo bị hỏng, các anh ấy mò lại tìm cái máy đã chôn xuống thì ôi thôi, pháo TQ đã bắn lật cả lên rồi, nát hỏng không còn dùng được nữa). Bấy giờ, chỉ còn hy vọng đầu bên chúng tôi máy hỏng và chữa được thì sẽ nối thông lại liên lạc được.

Đặc điểm của máy vô tuyến tiếp sức là làm việc trong tầm nhìn thẳng LOS (Line-Of-Sight). Không liên lạc được, lại sợ rằng do bị che chắn bởi rừng núi Tây Bắc điệp trùng, anh em lính ta đã vác bộ máy leo lên một đỉnh núi mà theo bản đồ thì sẽ không còn bị che chắn sang phía bên Cam Đường. Mỗi khối máy (vài khối máy như thế) vài chục cân, riêng máy nổ gần 70 kg, đều là sức người tải lên trong đêm cả (ban ngày thì phải triển khai máy dò sóng bắt liên lạc nên không di chuyển được). Có cậu lính trẻ măng được giao mang ăng-ten, nửa đêm mang cái ăng-ten chữ thập dài kềnh cành leo dốc - mưa, dốc núi trơn nhẫy, lại còn vướng víu vì không nhìn thấy gì trong đêm mưa - nên đành cắm ăng-ten tạm xuống, che ni-lông lính lên ngồi thu lu chờ sáng nhọ mặt người mới rõ đường mà leo tiếp lên được.

Nhận lênh lên chóp chữa máy, sáng sớm hôm sau, mỗi người được phát 1 bánh mì không nhân và một đoạn mía dài chừng hơn 1 mét làm lương ăn. Nhét cái bánh mì vào xắc-cốt đựng cái đồng hồ vạn năng, dùng cây mía làm gậy chống, tôi và anh Báu cuốc bộ vào chỉ huy sở tiền phương Quân khu, 2 anh em mới có một khẩu K54 của tôi làm vũ khí hộ thân - dạo ấy thám báo địch hay luồn sâu vào để bắt "lưỡi" nên cũng phải rất cẩn thận, đường rừng vắng vẻ chứ có phải như dưới xuôi đâu mà nhởn nhơ được. Gần 10h sáng mới vào tới nơi, sâu trong rừng 4-5 km. Tổng đài QK là một cái lều bạt dựng ven suối vắng hoe, có mỗi một cô lính thông tin trẻ măng đang luôn tay rút và cắm phích nối liên lạc, anh em đang đi rải hay nối dây cả, chỉ có 1-2 người đang sốt nằm bẹp trên những tấm ván gác trên đầu các cọc vầu cắm vội xuống nền đất ướt nhoẹt vì mưa vào cả đến chỗ nằm, mặt mũi đỏ dừ, mệt mỏi vì thiếu thuốc men và cả lương thực, thực phẩm nữa. Có bao nhiêu thuốc mang đi từ dưới xuôi chưa dùng, tôi dốc cả ra cho anh em. Ác nhất là không có người dẫn đường lên chóp, núi thì cao và rừng thì rậm rì, song chả lẽ lại chịu bó tay. Anh Báu thì bảo cứ chờ người dẫn thôi, biết đường nào mà lần lên chứ. Tôi thì nghĩ khác, 1 phút mất liên lạc có khi phải đổi bằng bao nhiêu mạng chiến sĩ. Vì vậy tôi bảo cô trực tổng đài chỉ cho tôi đôi dây điện thoại nối từ tổng đài lên chóp. Cứ lần theo đó mà lên.

Một mình tôi chống cây mía, lần theo đôi dây bắt đầu leo lên. Trời mưa nên đường rất trơn, dây kéo theo đường thẳng nên không có lối mòn gì hết. Tôi cứ bám sát đôi dây, gặp bụi rậm lắm mới đi vòng, mắt không dám rời đôi dây sợ lạc. Khẩu K54 phải giắt trong bụng, lúc này mới thấy cái lưỡi lê AK tôi mang theo thật hữu dụng: phát cành, phạt cây băng băng. Gặp những thành dốc đứng, tôi cắm lê vào thành dốc, bậy ra một lỗ đủ để đặt mũi giày, bám cỏ/cành cây phía trên mà cứ thế từng bước leo ngược mãi lên. Có đoạn đang leo lên một cái dốc, được chừng 3m rồi thì búi cỏ tôi bám vào đu người leo lên bung ra, thế là lộn nhào xuống. Lại cũng cứ là cái lưỡi lê AK cứu tôi - đang lộn nhào xuống, rất nhanh, tôi huơ lưỡi lê cắm xuống đất ghì lại, nhờ thế mà cản được đà rơi, khỏi gãy cả cổ. Cứ thế, gần 1h chiều mới lên tới đỉnh núi. Gần 1 tiếng sau thì anh Báu có người dẫn đường cũng lên tới nơi. Giở bánh mì ra để ăn thì hỡi ôi, bánh mì ngấm nước mưa đã nát ra thành một món cháo loãng trong túi ni-lông, cây mía đã cụt ngủn do bị dùng làm gậy chống, chỉ còn một đoạn chừng 40cm, đành dóc ra gặm tạm. Vẫn còn hơn anh em lính chóp, đã gần 2 ngày chưa có gì vào bụng, anh nào anh nấy ướt sũng bởi mái bạt dựng vội chỉ đủ che cái P401, mọi việc đang rối bời bởi cứ một chốc lại có điện thoại từ phòng TT gọi lên giục giã xem đã nối thông được liên lạc chưa.

Chóp tiếp sức là một cái đỉnh núi bằng phẳng, rộng chừng 3 gian nhà, nhô lên vài cụm đá, trong đó có 1 cái hang nhỏ đủ chỗ để đài tiếp sức P401 đang liên lạc về Bộ Tổng tư lệnh hoạt động và một tổ máy P105Д đang nheo nhéo chuyển tin sang bên kia sông Hồng (vòng vèo qua chừng 5-7 đài như thế rải rác trên các mỏm núi khác - gọi là các chóp P105Д). Trạm máy hỏng được đặt dưới một mái bạt toen hoẻn, ngồi đo là giơ lưng hứng nước mưa. Chúng tôi hì hục đo các thông số máy, phán đoán, lại đo, lại phán đoán và kiểm tra. Mãi tới gần 4h chiều mới phát hiện ra dây nuôi ăng-ten bị đứt ngậm ngay đầu nối vào chữ thập ăng-ten. Cái ăng-ten kềnh càng trước đó được gá trên một cành cây xoan mọc chìa từ đỉnh núi ra. Anh em lính trạm thì ngại trèo lên dỡ xuống vì rất ít khi ăng-ten lại hỏng, chỉ nhất loạt tin rằng máy phía đầu bên Cam Đường hỏng, nói sao cũng không chịu trèo lên gỡ xuống để kiểm tra. Tôi đành trèo lên gỡ xuống, vắt vẻo trên cành cây chìa ra nhìn xuống vực sâu hun hút cả 60-70m mới rợn hết cả xương sống. Không có cái gì để hàn nối (mỏ hàn mang theo sài điện 220V mà máy nổ thì lại là điện 110V!) nên đành cử một cậu chạy bộ xuống lấy ăng-ten dự phòng lên. Mãi đến 18h, đã nhập nhoạng sương núi đang xuống trắng đục cả buổi chiều muộn cậu lính mới quay trở lên, vác theo một cái xà ăng-ten xương cá chữ thập dài ngoằng ngoẵng, hai đầu treo toòng teng hai cái chậu nhôm quân dụng: một đầy cơm, một đầy thịt - bảo là lúc rút từ trên Xuân Quang về, đại đội bắn được một con lợn của dân ta thả rông, không kịp mang chạy giặc, bây giờ dành ưu tiên cho anh em trên chóp đã hai ngày nhịn đói.

Treo ăng-ten lên, buộc một đoạn dây thừng vào đầu để kéo quay ăng-ten chỉnh hướng, mãi 18h25, trong ống nghe tổ hợp đeo tai mới vọng lên từ rất xa xăm hiệu gọi của đài bạn "Sông Hồng gọi Sông Lô, nghe rõ trả lời!", dù rất xa xôi song cũng đủ nhận thấy tiếng gọi đã khàn đặc, có lẽ họ đã gọi như thế suốt cả 2 ngày nay rồi. Thật là mừng rơi nước mắt. Chỉnh hướng ăng-ten cho tín hiệu mạnh nhất xong, gọi điện báo về phòng Thông tin rồi anh em mới xoay ra chăng lại bạt, phát cành, đốt lửa chuẩn bị ăn tối. Đèn báo kênh làm việc sáng suốt trên mặt máy, anh em lính cười bảo: "Kệ các bố ấy nói thôi, bí đái cả 2 ngày nay rồi bây giờ cho các cụ ấy nói thỏa sức!" - là nói tư lệnh quân khu với các cấp chỉ huy chiến đấu đã vô cùng sốt ruột suốt 2 ngày qua. Cậu Kỳ, 23 tuổi, thượng sĩ trạm trưởng người Kỳ Anh ôm lấy tôi và bảo "May quá có các anh lên giúp sửa chứ không mất liên lạc hẳn thì chúng em chỉ có nước ăn kỷ luật cả loạt". Y bảo tôi thế này: "Anh ơi, giữa chiến trường chẳng có gì làm kỷ niệm cả, anh cho em bóp dái anh một cái để nhớ nhau cái ngày hôm nay anh nhé!". Nói rồi là làm liền, không để cho tôi phản ứng gì, chỉ thấy đau điếng, nổ cả đom đóm mắt. Sẽ không bao giờ tôi quên được cái giây phút ấy. Nghĩ mà thương anh em lính lắm, và cảm phục nữa, có lẽ không có lính ở đâu trên thế giới này lại ngoan cường như lính ta cả đâu - sau này một lần nữa tôi lại được chứng kiến anh em ta đói khát, ghẻ lở, thiếu thốn đủ đường (cơm nấu chín xúc ra rá, còn một ít cháy để lại đun thành than rắc ăn thay muối, chỉ có vậy thôi) mà vẫn kiên cường bám chốt giữ đường biên trên Thất Khê năm 1984, một tấc không chịu lùi.

Hai cái chậu nhôm ấy nhẵn thín ngay, 7 anh em đánh một loáng là sạch bay cả cơm lẫn thịt, nhưng mà vui lắm. Trời đã tối đến mức không thể lần xuống núi nên bọn tôi đành ngủ lại với trạm. Thấy cả bọn hốc hác, mắt thâm quầng vì đã mấy đêm thức, tôi bảo cho tôi trực máy cùng, cắt cho tôi phiên giữa đêm để anh em được ngủ. Trừ một chú lính giữ máy nổ trong cái hang phía dưới, 4 lính trạm và tôi chia nhau một cái chiếu con rải sát máy, một người ngồi trực, 3 người nằm ôm nhau co quắp ngủ trên chiếu, chăn bông không vỏ sũng nước như vừa giặt xong, giữ ấm nhờ một đống lửa đốt cả gỗ nguyên cây. Tôi bảo anh em: "Tớ là sĩ quan, phải làm gương, nên nhường cho các bạn nằm trong chiếu, tớ nằm ngoài đất". Căng cái áo mưa sĩ quan bằng vải bạt do Liên xô viện trợ lên (buộc túm tó ống tay với các vạt áo ra các cành cây), chỉ đủ che mặt, tôi gối đầu trên xắc-cốt ngủ, trên trời mưa xuống mà dưới lưng thì lõng bõng bùn. Thế mà cũng ngủ được mới lạ, chỉ thức 2 tiếng giữa đêm thay ca trực máy. Sáng hôm sau mới lần xuống núi về Trung đoàn.


PS: Mấy ngày hôm nay, cư dân mạng xôn xao chuyện tàu TQ phá đám. Bên trang của các cựu LHS quân sự Hung chúng tôi, có người còn nhắn tin bằng điện thoại cho nhiều members trách "sao không thấy bàn bạc gì trên forum, hay đã nguội lạnh lòng yêu nước?". Mới lẩn thẩn ngồi nhớ lại chuyện năm nào kể hầu các bác. Vẫn nhớ câu thơ xưa "Bạch đầu quân sĩ tại/Vãng vãng thuyết Nguyên Phong" (Người lính già đầu bạc/Kể mãi chuyện Nguyên Phong".

Thay đổi nội dung bởi: nqbinhdi, 03-06-2011 thời gian gửi bài 22:54 Lý do: Chữa lỗi không viết hoa
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 9 thành viên gửi lời cảm ơn nqbinhdi cho bài viết trên:
buc xuc (03-06-2011), chaika (03-06-2011), gzelka (01-04-2012), htienkenzo (03-06-2011), hungmgmi (03-06-2011), quangnam (30-03-2012), sad angel (03-06-2011), thanhnam76 (20-10-2011), USY (03-06-2011)