Nếu mặc cảm cá nhân có xu hướng tìm lại cân bằng trong giấc mơ và các hình thức phóng chiếu lên kẻ khác như một hình bóng của chính mình, hoặc dưới dạng các biến hóa của sự tự kiêu, thì các mặc cảm cộng đồng cũng tự tìm lại cân bằng dưới các hình thức của sự tự tôn. Vô thức tập thể (CG. Jung) của cả một dân tộc được ghi dấu ấn trong tế bào gen mỗi cá nhân, bằng cách thức nào đó mà tâm lý học phân tích chưa giải nghĩa được - và truyền lại cho các thế hệ sau, thể hiện ra bằng tính cách, thói quen, lối sống, nói chung là bằng văn hóa.
Và chúng tôi cho rằng, văn hóa Nga là một nền văn hóa có nhiều tính chất của sự mặc cảm và hoài nghi bản thân mình. Hẳn nhiên văn hóa Nga là một nền văn hóa lớn, hoàn toàn tương xứng với độ rộng lãnh thổ của họ, hai điều này có liên quan tương hỗ đến nhau - và hẳn nhiên là nền văn hóa này ít có dân tộc có thể tạo ra được với độ sâu và phong phú như thế. Cho đến trước thế kỷ 16, văn hóa Nga đã từng không thua kém gì phương Tây kể từ khởi điểm chung, trong đó có thể kể đến hai đô thị phồn thịnh nằm trong nền văn minh Xlavo là Novgorod và Kiev. Nhưng đến đầu thế kỷ 17, cùng với sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứ nhất, văn hóa phương Tây đã vượt lên trên văn hóa Nga về mức độ văn minh và sự thịnh vượng của họ. Thậm chí trong thời gian này, tiếng Pháp cùng văn minh Pháp còn được coi là văn hóa thượng lưu trong giới quý tộc Nga. Phần còn lại mênh mông của đế chế Nga vẫn còn chìm đắm trong thời phong kiến nghèo nàn lạc hậu. Ta có thể thấy tính chất mặc cảm và hoài nghi Nga trong các tác phẩm văn học cổ điển, ví dụ motif nhân vật luôn vật lộn trăn trở nội tâm, dằn vặt hoài nghi bản thân mình trong các tác phẩm của Dostoievski, cùng motif nhân vật soi đuốc đi tìm chân lý trong các tác phẩm của Lev Tolstoi. Điều này là vắng bóng trong các tác phẩm văn chương cùng thời của phương Tây, ví dụ Robinson Cruso và Gulivo du ký - các tác phẩm của Anh, trong đó không hề có sự dằn vặt nội tâm nào - mà là cổ vũ cho tinh thần dũng cảm, chí khám phá những chân trời mới. Cũng tương tự là các tác phẩm triết học Pháp của J. Russo và Didero cổ vũ cho tinh thần cách mạng và dân chủ trong thời kỳ Ánh Sáng, hoặc bộ Tấn Trò Đời của Balzac mô tả những sự phức tạp của xã hội Tiền Tư Bản thông qua câu chuyện dài về các nhân vật.
Tính chất mặc cảm và hoài nghi này là một đặc điểm nổi bật của văn hóa Nga, trong đó không thể không nhắc đến độ rộng của lãnh thổ, góp phần vào tính chất này. Nga có một lãnh thổ rộng lớn trải dài từ Á sang Âu, với nhiều bình nguyên và đồng bằng. Đế chế Nga không thể nào cai quản hết được, nhất là những vùng xa xôi như Siberia và Viễn Đông. Độ rộng lớn là một vấn đề, khiến cho người Nga có được lối sống tự túc (không cần lập phường hội buôn bán), khép kín, lười biếng (Ivan tính) và hay tư lự u buồn, ưa suy nghĩ nhiều hơn là hành động.
Nhưng đến thời kỳ Soviet, nước Nga, sau cuộc cách mạng điện khí hóa và xây dựng nền công nghiệp, dường như đã trút bỏ được mặc cảm của mình. Lúc này chúng tôi gọi đó là thời kỳ tự tôn. Quả thật, trong thời gian này nước Nga hầu như đã lấy lại được địa vị nước lớn vốn có của mình kể từ trước thế kỷ 17, và trong thời gian này, bất cứ một người Nga nào cũng sẵn sàng tự hào và hài lòng về địa vị cường quốc của mình. Rõ ràng rằng điều đó là đã từng có thật, nhưng chúng tôi cho rằng sự tự tôn mà có được, cũng chính là có xuất phát điểm từ sự tự ti, hay mặc cảm trước đó. Dù sao thì trong thời kỳ Soviet, nước Nga đã có thể lập lại thế bình đẳng với phương Tây về nhiều mặt, kể cả một vài vấn đề có vẻ còn vượt trội như sự hài lòng và thư thả của dân chúng trong một xã hội bình quân. Ở thời kỳ này, sự mặc cảm là biến mất.
Hiện nay, khi nước Nga bắt đầu bước vào nền kinh tế thị trường, rõ ràng họ đã đi sau phương Tây hàng vài thế kỷ. Và sự mặc cảm đã trở lại, trong sự ngầm so sánh với mức sống cao của xã hội phồn vinh phương Tây. Địa vị cường quốc cũng đã giảm sút khi mà không có tiềm lực kinh tế, đồng thời các vấn đề kinh tế tư bản buổi đầu, đã góp phần làm xáo trộn xã hội và tâm lý người dân.
Trong bối cảnh mới đó, người Nga nhìn lại những người thuộc thế giới thứ ba sống trong nước mình - vốn đến từ những nơi nghèo khổ nên buộc phải tháo vát nhanh nhẹn, mưu lược trong kiếm ăn, và một số đã thành công - bằng những con mắt thiếu thiện cảm. Chúng ta có thể nhận thấy, trong các thời kỳ trung cổ của Nga, người Nga không có nhiều cơ hội tiếp xúc với người ngoại quốc, nhất là những dân tộc đến từ các nước nghèo hơn họ - ngoại trừ các sắc dân nghèo trong đế chế Nga, mà họ chỉ tiếp xúc với các dân tộc văn minh hơn như Pháp và Anh, Đức, nên mặc cảm dân tộc của họ ở thời kỳ đó là một mặc cảm loại khác. Đó là sự ngưỡng mộ.
Đến thời Soviet, thì các dân tộc ngoại quốc đến Nga là tương đối nhiều, trong đó có các dân tộc da màu và thuộc thế giới thứ ba. Quan hệ tình cảm của người Nga với các đối tượng này, trong thời kỳ này là thái độ khoan dung - tức là ở cái thế của kẻ đang mạnh với kẻ yếu. Rõ ràng trong thời kỳ này, chúng tôi thấy người Nga chung sống với các dân tộc thuộc thế giới thứ ba trong cùng lãnh thổ, tương đối hòa bình và thân thiện, mặc dù vẫn có thái độ quan sát, nhưng là để tìm hiểu sự khác lạ, mà không phải là công kích. Đến đây chúng tôi cần nói thêm rằng, một dân tộc - cũng như một cộng đồng - thì luôn có tâm lý quan sát những sự khác biệt của dân tộc khác - những cái không giống với thói quen của mình.
Chỉ đến khi những xung đột về lợi ích xảy ra, thì người Nga - bằng vào những sự xâm phạm về lợi ích của mình, bằng vào vị thế vốn có của kẻ mạnh, bằng vào tâm lý bề trên so với những dân tộc yếu, bằng vào nguồn gốc Xlavo da trắng tương đối thuần chủng - mà nay lại nhìn thấy sự thành công của các sắc dân da màu, cộng với những khó chịu do sự khác biệt về lối sống - thì người Nga lúc này lại trỗi dậy tính chất mặc cảm vốn có từ trong vô thức của mình - về sự lẽ ra họ xứng đáng được hơn thế, và kẻ kia trước đây vốn thua kém, lẽ ra không đáng được hưởng như thế. Đó là tâm lý mặc cảm đố kỵ, và làm nảy sinh sự tức giận.
Và đó cũng chính là căn nguyên tâm lý của các nhóm đầu trọc Nga, vốn phần lớn thất học và lưu manh du đãng. Đó là sự tấn công vì bắt nguồn từ tâm lý mặc cảm đố kỵ thua thiệt. Và cũng rõ ràng rằng, chúng chỉ tấn công người da màu mà không hề tấn công người da trắng, dù rằng người da trắng ngoại quốc ấy cũng rất có thể xuất phát từ một nước Đông Âu nghèo nàn nào đó. Đó là do chúng chỉ cảm thấy tức giận khi cảm thấy đố kỵ thua thiệt một người da màu, trong khi lại không có tâm lý mặc cảm này với một người ngoại quốc nhưng cùng màu da với mình.
Những người còn lại trong dân tộc Nga mà không phải thuộc nhóm đầu trọc, tức là không có ý tấn công, điều đó không hẳn rằng họ không có mặc cảm loại này, mà là vẫn có, nhưng họ không chọn hình thức tấn công, mà tự suy nghĩ về mặc cảm ấy và để trong lòng.
Còn những thiểu số ít ỏi người Nga còn lại nào đó vẫn giữ được sự quý mến các sắc dân da màu, cũng không hẳn rằng họ không có những mặc cảm tương tự như đồng bào của họ, mà là vẫn có - bởi vì như đã nói, loại mặc cảm này không phải là ở từng cá nhân nên có sự khác nhau, mà là mặc cảm dân tộc. Tuy nhiên ở họ hiện diện sự khoan dung của kẻ vốn đã từng mạnh, so với kẻ yếu.
Đến đây, chúng tôi đã hầu như giải thích xong về những vấn đề tâm lý trong quan hệ tình cảm Nga-Việt, vốn nằm trong mối quan hệ tình cảm Nga-thế giới thứ ba. Nhưng đến đây chúng tôi muốn lật ngược lại vấn đề - như một giả thiết - rằng giả sử trong tâm lý người Nga không hề có cái gọi là mặc cảm nào, kể cả trong thời xa xưa, để kiểm chứng lại luận điểm của mình. Và như vậy, vấn đề sẽ dẫn đến rằng, hẳn nhiên đã không có thái độ tự dằn vặt hoài nghi trong văn học Nga. Cũng không có sự ngưỡng mộ phương Tây trong các thế kỷ trước, bởi không có mặc cảm thì cũng không có ngưỡng mộ, mà đã là một thái độ tiếp nhận cởi mở bình thường. Và do vậy cũng đã không từng có sự tự tôn nào. Mọi sự sẽ diễn tiến bình thường tuần tự cho đến nay, không có những thái cực của tình cảm để tạo nên người Nga như hiện nay. Nhưng rất tiếc, mọi sự đã diễn ra theo cách như vậy.
III.
Về quan hệ tình cảm Việt-Nga, như đã nói ở trên cùng, không thể xem xét chung trong mối quan hệ tình cảm của các nước thế giới thứ ba với Nga, ví dụ như Apganistan, Phi Châu hay Venezuella. Cùng lắm chỉ có thể xem xét chung với Lào mà thôi. Đó là do quan hệ đặc thù của Việt-Nga. Với những người Việt đã từng tham dự vào mối quan hệ này, người Nga không phải là người da trắng hay không, và lãnh thổ Nga có thuộc phần phương Tây hay là không. Những điều đó là không quan trọng với người Việt, mà chính xác thì đó là một nơi để mơ ước. Chỉ là như thế.
Người ta có một nơi để mơ ước, hay để ký thác vào đó những sự mơ mộng, khi mà con người ta có những điều chưa thể đạt tới. Từ trong vô thức, người Việt đã quen chịu đựng với sự vất vả khổ cực, và cũng đầy rẫy mặc cảm, đến nỗi cảm thấy là bình thường. Nay có dịp tiếp xúc với một không gian mênh mông bát ngát, cảnh trí vô cùng lãng mạn và những giai điệu mượt mà, man mác buồn, thì đó quả là một nơi xứng đáng để ký gửi những ước mơ của mình.
Ký gửi ước mơ là như thế nào? Đó là một thuật ngữ mang tính hình tượng của chúng tôi để nói về việc người ta luôn có tâm trạng thư giãn khi nghĩ về một cái gì đó mang tính đẹp đẽ, xa xôi và không thể đạt tới, chỉ như một ước mơ. Cũng như trong tâm lý, con người thường nghĩ đến những kỷ niệm đẹp đã qua với cảm giác tiếc nuối không thể tìm lại được, như là một nơi không cụ thể, để thư giãn tâm hồn.
Tất nhiên cũng có thể đặt lại giả thiết rằng, vậy sao người Việt không ký thác ước mơ của mình vào các xứ sở như Mỹ hoặc Pháp, vì ở những nơi đó cũng đẹp và lãng mạn chẳng kém gì Nga? Đến đây chúng ta lại phát hiện thấy một điều thú vị rằng, kể cả những người Việt ở Pháp và Mỹ, hoặc những người Việt chưa từng hiện diện ở Nga, cũng đều có thể sẵn sàng ký gửi ước mơ cá nhân vào xứ sở Nga. Điều đó có được là do bản thân điều kiện địa lý của lãnh thổ Nga, đã vô tình tạo ra một vùng đất có cảnh quan thiên nhiên đẹp hiếm có.
IV.
Cuối cùng, chúng tôi muốn nói rằng, trong thời gian này, thì những cách tiếp cận khảo sát quan hệ Nga-Việt-Nga của chúng tôi tự cảm thấy có vẻ như là phù hợp, xét dưới góc độ tâm lý học. Sau một thời gian nữa, rất có thể chúng tôi lại đào sâu thêm nữa theo hướng đã làm, hoặc là tìm cách khảo sát theo một hướng khác.
Bài được đăng lần đầu tiên ở đây. Tác giả sẽ giữ bản quyền và tự sửa chữa, đăng tải nơi khác nếu muốn, theo ý mình.
Tài liệu tham khảo:
- Lịch sử liên bang Nga, wikipedia.
- Nguồn gốc của tôn giáo và văn hóa, S. Freud.
- Thăm dò tiềm thức, CG. Jung.
- Điều kiện địa lý và tư duy dân tộc Nga, Bùi Mỹ Hạnh.
|