Có tuổi đôi mươi thành sóng nước…
Có tuổi đôi mươi thành sóng nước…
Có lẽ không cần phải nói nhiều đến những niềm vui của cuộc offline kỷ niệm 6 năm NNN, cũng không cần phải nói những lời cảm ơn mà các thành viên NNN “chủ nhà Quảng Trị” đã được nghe nhiều e rằng nói thêm sẽ nhàm và sáo rỗng… Nhưng chưa có một chuyến đi nào lại chứa nhiều cảm xúc cho các thành viên NNN đến thế. Dường như, sự xúc động của một cựu chiến binh về thăm lại chiến trường đã lan sang các thành viên NNN không gì ngăn cản nổi.
Mỗi năm cứ đến tháng Năm, xem truyền hình Nga thấy các chiến sỹ quân đội Nga (trước đây là Liên Xô) tập dượt, rồi tham dự lễ duyệt binh mừng chiến thắng, cái cảm xúc yêu quý, trong đó có cả thèm muốn lại xuất hiện. Cứ ra Giêng, các địa phương lại nô nức giao quân, những thanh niên trẻ măng nô nức lên đường cũng rất đẹp. Quả thực, những người lính trẻ họ thật đẹp. Cái đẹp đó là cái đẹp của tuổi trẻ. Có thể nói rằng, ở con người, tuổi trẻ là đẹp nhất!
Đến thành cổ Quảng Trị, các thành viên NNN được giới thiệu bởi một người thanh niên có chất giọng Quảng Trị trầm ấm rất truyền cảm. Bài nói của anh không khó tìm được trên mạng internet, trên trang web về du lịch, trên diễn đàn của các sinh viên du lịch, nhưng tôi tin là khó có ai có thể nói truyền cảm như thế. Xin post toàn văn bài giới thiệu Thành cổ ở đây:
Trích:
Chúng ta đang đứng đây, mảnh đất của 38 năm về trước là một chiến trường khốc liệt đầy máu và lửa. Bằng cuộc chiến đấu anh dũng kiên cường của quân và dân ta chống trả những đợt phản kích tái chiếm của địch trong suốt 81 ngày đêm năm 1972 để bảo vệ Thành Cổ và Thị xã Quảng Trị. Sự kiện lịch sử đó đã góp một phần quan trọng vào thắng lợi trên bàn hội nghị Pari tạo đà cho công cuộc giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Để làm nên trang lịch sử ấy hàng ngàn chiến sỹ đã anh dũng chiến đấu và vĩnh viễn nằm lại nơi đây. Các anh hi sinh nhưng hình hài các anh không còn nguyên vẹn nữa, máu và xương thịt của các anh đã hoà vào lòng đất cho non sông đất nước có ngày độc lập, nhân dân được ấm no hạnh phúc.
Với những giá trị lịch sử đã được đúc kết bằng sự hy sinh to lớn của hàng ngàn chiến sỹ, cụm di tích Thành Cổ Quảng Trị được bộ văn hoá xếp hạng là di tích Quốc gia. Đến đầu năm 1994 được xếp hạng di tích Quốc gia đặc biệt quan trọng.
Hôm nay đoàn chúng ta đến với Thành Cổ Quảng Trị, không những đến với một di tích lịch sử mà đoàn chúng ta còn đến với một nghĩa trang, một nghĩa trang không có nấm mồ. Khác với nghĩa trang liệt sỹ Trường Sơn, nghĩa trang liệt sỹ Đường 9 hay các nghĩa trang khác thì liệt sỹ nào có mộ liệt sỹ đó cho dù biết tên hay chưa biết tên. Nhưng khi đến với Thành Cổ Quảng Trị các anh chỉ có một ngôi mộ tập thể chung, một nấm mồ chung mà thôi. “Đài tưởng niệm trung tâm” là biểu tượng của nấm mồ chung, của ngôi mộ tập thể đó.
Đài tưởng niệm được mô hình hoá thành nấm mộ chung: dưới chân nấm mồ được đắp theo hình bát giác tượng trưng cho bát quái, bốn lối bậc cấp đi lên tượng trưng cho tứ tượng, tầng mà đoàn dâng hương là tầng lưỡng nghi. Bên trên là mái đình Việt cách điệu, trên mái đình là bình thái cực. Theo quan niệm triết lý phương Đông thì thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái, bát quái vận hành sinh vạn vật làm vũ trụ phát triển không ngừng.
Ngôi mộ tập thể này được thiết kế theo quan niệm triết lý âm dương mang ý nghĩa sâu sắc là để siêu thoát cho linh hồn những người đã khuất. Nơi đoàn chúng ta đang đứng gọi là tầng lưỡng nghi, gồm hai nữa âm và dương: nữa bên nước là nữa âm, nữa bên nền đỏ là nữa dương. Người ta quan niệm rằng trong cuộc sống này âm dương luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau như: giữa trời và đất, giữa ngày và đêm, giữa người sống và người chết đó là hình thái âm dương. Và âm dương không bao giờ hoạt động độc lập mà bao giờ trong âm cũng có dương và trong dương cũng có âm, âm dương luôn hoà quyện vào nhau.
Ngay nữa phần âm người ta cho làm một cây đèn màu đỏ tượng trưng cho phần dương trong âm. Đèn này có chiều cao 8,1m tượng trưng cho 81 ngày đêm và được ví như “Đèn thiên mệnh” với chức năng thiêng liêng là chuyển tải linh hồn các chiến sỹ giải phóng quân từ cỏi âm về cỏi vĩnh hằng. Trên đỉnh của cây thiên mệnh có ngọn lửa mang ý nghĩa là ánh hào quang của cuộc chiến 81 ngày đêm quyết tử cho tổ quốc quyết sinh trên chiến trường Quảng Trị. Giữa cây thiên mệnh người ta làm ba áng mây tượng trưng cho tam tài: Thiên – Địa – Nhân với ý nghĩa là cầu nối giữa trời, đất và con người. Theo phong tục của người Á Đông chúng ta thường hay cúng cơm cho người đã khuất vì vậy trên cây đèn người ta đắp 3 bát cơm để tượng trưng cho ý nghĩa đó.
Nữa phần dương còn lại được lát bằng nền gạch đỏ là màu của sự sống sự sinh sôi nảy nở. Trên phần dương có một lỗ tròn tượng trưng cho phần âm trong dương, phần âm trong dương này thông vào lòng nấm mồ. Lòng nấm mồ rỗng có 2 trục đường chính giao nhau về tứ phương, về mặt tâm linh thì đây là nơi hội tụ linh hồn của các chiến sỹ tứ phương về nấm mồ chung này. Ở chính giữa là nơi đặt hành trang người lính: Một chiếc mủ tai bèo, một đôi dép cao su, một bi đông nước, một khẩu súng AK và một chiếc ba lô. Giản dị và thân thương mà các anh đã làm nên lịch sử.
Ở giữa hai phần âm và dương có đặt một lư hương để cho mọi người khi đến Thành Cổ thắp một nén hương với lòng thành tâm cầu nguyện mong rằng linh hồn các anh sẽ từ cõi âm theo đèn thiên mệnh siêu thoát về cõi vĩnh hằng và sẽ thanh thản nơi chín suối.
Phía bên ngoài tầng lưỡng nghi còn có 81 bức phù điêu là 81 tờ lịch ghi lại từng ngày một của cuộc chiến 81 ngày đêm tại Thành Cổ Quảng Trị từ 28/06/1972 – 16/09/1972 theo chiều ngược kim đồng hồ.
Do hàng ngàn chiến sỹ ta cho đến hôm nay vẫn còn nằm dưới mảnh đất này, vì thế mà các công trình dưới thời nhà Nguyễn sẽ không còn được phục dựng lại nữa. Thành Cổ được xây dựng thành một công viên văn hoá, tưởng niệm và tri ân tôn vinh những người đã vĩnh viễn nằm nơi lại đây. “Cho tôi hôm nay vào Thành Cổ thắp một nén nhang viếng người nằm dưới cỏ. Cỏ xanh non tơ cỏ xanh non tơ xin chớ vô tình”. Lời bài hát “Cỏ non Thành Cổ” của nhạc sĩ Tân Huyền cũng chính là lời nhắn nhủ của cựu chiến binh Phạm Đình Lân từ Hà Nội về thăm lại chiến trường xưa. Anh đến với đài tưởng niệm cho hàng ngàn đồng đội đang yên nghĩ vĩnh hằng dưới lớp cỏ non xanh của khu di tích thắp nén tâm hương mà lòng sót xa nhắn nhủ:
“Nhẹ bước chân và nói khẽ thôi
Cho đồng đội tôi nằm yên dưới cỏ
Trời Quảng Trị trong xanh và lộng gió
Dẫu ồn ào đừng lay động hàng cây.
Nhẹ bước chân và nói khẻ thôi
Thành Cổ rộng sao đồng đội tôi nằm chật
Mỗi tấc đất là một cuộc đời có thật
Cho tôi hôm nay đến nghẹn ngào.”
Về lịch sử của thành cổ Quảng Trị này, được xây dựng thời nhà Nguyễn đầu năm 1809, thành Quảng Trị được vua Gia Long cho xây đắp bằng đất. Đến 28 năm sau, tức năm 1837, lúc đó thành được vua Minh Mạng cho xây lại bằng gạch kiên cố. Thành xây theo dạng hình vuông có chu vi 2160m tường cao 4m, dày 12m. Kiến trúc giống lối kiến trúc kinh thành Huế (kiến trúc Vouban). Vouban là kiểu kiến trúc quân sự Pháp khoảng thế kỷ 17. Đặc điểm thành Quảng Trị dưới thời nhà Nguyễn, thành Quảng Trị là trung tâm tỉnh lỵ tỉnh Quảng Trị do vậy diện tích thành là 16ha thì có nhiều công trình xây dựng cho quan lại làm việc và thành cổ Quảng Trị đã thật sự chấn động lương tri loài người, đã làm rung chuyển cả nước và toàn cầu trong cuộc chiến khốc liệt bảo vệ thành cổ trong suốt 81 ngày đêm của quân và dân ta trong mùa hè lịch sử 1972.
Đầu 1972 ta mở chiến dịch Xuân Hè giải phóng tỉnh Quảng Trị và hơn 30 ngày từ 30/3 đến 1/5/1972 ta đã vào giải phóng hoàn toàn tỉnh này, và đây là tỉnh đầu tiên của miền Nam được hoàn toàn giải phóng vào ngày 1/5/1972. Tháng 5 giải phóng Quảng Trị thì 2 tháng sau tức tháng 7 là tháng có hội nghị bốn bên tại Paris về việc lập lại hòa bình và chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam. Do vậy nhằm gây sức ép với ta trên bàn hội nghị Paris cũng như nhằm lặp lại thế trận chiến tranh miền Nam sau khi để mất tỉnh Quảng Trị. Dưới sự yểm trợ tối đa của Mỹ, chính quyền của tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã dốc toàn bộ lực lượng mở cuộc hành quân phản kích tái chiếm được gọi là Lam Sơn 72. Cuộc hành quân này được gọi là cuộc hành quân đẫm máu để chiếm lại thành cổ Quảng Trị 16ha và một thị xã Quảng Trị kéo dài 81 ngày đêm.
Bắt đầu từ 28/6 đến 16/9/1972. Địch ném 328 ngàn tấn bom, báo chí phương Tây thời bấy giờ bình luận rằng đây tương đương sức công phá của 7 quả bom nguyên tử Mỹ đã ném xuống Hiroxima Nhật Bản 1945. Do vậy mà sau 81 ngày đêm toàn bộ thị xã và thành cổ này đã bị san bằng hoàn toàn không còn gì cả. Và khi địch mở cuộc hành quân Lam Sơn 72 tái chiếm tỉnh Quảng Trị thì mục tiêu số 1 của địch lúc bấy giờ là bằng mọi giá phải chiếm lại thành cổ này. Bởi vì thành cổ Quảng Trị lúc bấy giờ có vị trí chiến lược quân sự rất quan trọng. Và ta cũng như địch đều nhận định rằng nếu như ai làm chủ được thành cổ này trong giai đoạn đó thì xem như làm chủ được thị xã cũng như toàn bộ tỉnh Quảng Trị. Vì vậy khi địch càng quyết chiến chừng nào thì ta càng quyết giữ chừng đó. Người ta ví thành cổ Quảng Trị này trong 81 ngày đêm năm 1972 như là một hố bom vậy.
Với diện tích 16ha như vậy mà trung bình mỗi ngày các chiến sĩ của ta ở đây phải hứng chịu 100 quả bom và 200 quả đạn pháo. Do vậy mà theo thống kê của phòng quân lực chiến trường của ta lúc bấy giờ thì hơn 80% bộ đội ta hy sinh tại tòa thành cổ này là do bom và đạn pháo, do sức ép của mặt đất. Lúc bấy giờ các chiến sĩ ở trong hầm cũng vỡ máu tai máu mũi mà hy sinh là vậy. Một đoạn nhật ký của chiến sĩ ta hy sinh đã kể lại rằng anh viết cho mẹ anh một đoạn thế này “Mẹ ơi con chắc không còn sống để nhìn thấy mẹ nữa, pháo, pháo suốt ngày đêm. Đầu con lùng bùng như muốn vỡ tung ra, ăn không được, ngủ không được máu tai đã bắt đầu chảy rồi như các bạn con khi chết đứa nào cũng đầy máu tai, máu mũi. Pháo trời ơi là pháo, mẹ ơi con chắc không về Bắc với mẹ được nữa..” đó là một đoạn nhật ký anh kể lại cuộc chiến khốc liệt thời bấy giờ.
Năm 1972 sau khi ta giải phóng tỉnh Quảng Trị, ta quyết tâm giữ tỉnh này vì ta đã đưa vào đây 6 sư đoàn chủ lực gồm những sư đoàn thép 304, 308, 324, 320, 325, 312, và rất nhiều tiểu đoàn, trung đoàn thuộc các binh chủng khác. Phần lớn các chiến sĩ lúc bấy giờ còn rất trẻ, các anh chỉ độ 18, 20, thậm chí cả 16, 17 tuổi. Tại chiến trường Quảng Trị nói chung và tại thành cổ này rất nhiều chiến sĩ trẻ của ta đã vĩnh viễn nằm lại nơi đây cho đất nước có ngày độc lập thống nhất hôm nay. Mặc dù phải chiến đấu dưới mưa bom bão đạn khi cái chết kề trong gang tấc như thế nhưng các chiến sĩ giải phóng quân vẫn anh dũng kiên cường chốt để bảo vệ thành cổ này suốt 81 ngày đêm với tinh thần là còn người còn trận địa cứ người này ngã xuống là người khác lên thay 1 tấc không đi một li không rời. Và đúng như thực tế, để bảo vệ thành cổ trong 81 ngày đêm thì trung bình 1 ngày đêm ta phải tăng cường vào đây một đại đội, một đại đội như vậy là từ 90 đến 120 người.
Giai đoạn quyết liệt nhất tức là cuối tháng 8 đến giữa tháng 9 năm 1972, cứ hôm nay ta đưa vào một đại đội thì qua hôm sau chỉ còn lại vài người. Và cũng trong giai đoạn này, tỉnh Quảng Trị đã gặp một trận mưa rất dài. Nước sông Thạch Hãn cách thành cổ này khoảng 300m về phía tây dâng cao khiến toàn bộ thị xã và cả thành cổ đã bị ngập lụt. Địch đã lợi dụng tình hình này tập trung bi pháo bắn phá các trận địa của ta làm hầm hào sạt lở. Lúc này các chiến sĩ giải phóng quân phải chiến đấu trong hoàn cảnh vô cùng khắc nghiệt, phải ngâm mình trong nước, ăn lương khô, uống nước lã, cùng chiến đấu với địch suốt ngày suốt đêm. Do điều kiện chiến đấu khắc nghiệt như thế nên sức khỏe của chiến sĩ ta giảm sút rất nhanh và con số thương vong càng ngày càng lớn. Để bảo toàn lực lượng cũng như sau khi hoàn thành nhiệm vụ chốt giữ thành cổ, bộ tư lệnh chiến dịch đã quyết định rút toàn bộ lực lượng của ta về bờ Nam sông Thạch Hãn vào hồi 18h ngày 16/9/1972. Nhưng lúc này dòng sông Thạch Hãn đang chịu một trận lụt rất lớn. Vì vậy khi hàng trăm chiến sĩ và thương binh của ta khi vượt sông đã không còn đủ sức chống lại với dòng nước lũ đang chảy xiết. Dòng sông Thạch Hãn lúc bấy giờ nó đã trở thành dòng sông máu, trở thành nơi yên nghỉ vĩnh viễn của các chiến sĩ thành cổ. Sau ngày đất nước hoàn toàn thống nhất, người dân Quảng Trị đã chọn những ngày lễ lớn như ngày 30/4, 27/7, 22/12 để làm lễ thả nến và hoa đăng xuống dòng sông Thạch Hãn như là một cách để sưởi ấm linh hồn cho các anh, để tưởng nhớ tất cả những chiến sĩ ta đã hy sinh tại dòng sông này. Và cũng sau ngày đất nước thống nhất thì cũng có rất nhiều cựu chiến binh cùng các chiến sĩ thành cổ năm xưa đã trở về thăm thành cổ Quảng Trị, sau khi dâng hương tại đài tưởng niệm xong, các anh cũng đến bên bờ sông Thạch Hãn thắp nén nhang để tưởng nhớ các đồng đội của mình mà đã không cầm được nước mắt với lời nghẹn ngào rằng:
“Đò xuôi Thạch Hãn xin chèo nhẹ
Đáy sông còn đó bạn tôi nằm
Có tuổi đôi mươi thành sóng nước
Vỗ yên bờ bãi mãi ngàn thu”.
Sau 81 ngày đêm khối lượng bom đan quá lớn như vậy ném xuống thị xã và thành cổ này thì tất cả đã bị san bằng hoàn toàn, hòa lẫn với đống đổ nát đó là xương, là máu, là thịt của hàng ngàn các chiến sĩ giải phóng quân trên khắp cả nước và đồng bào Quảng Trị. Một tấc đất của thành cổ Quảng Trị hôm nay có thể nói, đã thấm đầy máu của các chiến sĩ của ta và một điều nữa là ngày nay dưới lớp cỏ non của thành cổ vẫn còn rất nhiều hài cốt của các anh đã nằm lại đó và cho đến hôm nay được xem như đã hòa vào mảnh đất thiêng này rồi. 328 ngàn tấn bom, nó cày lên dập xuống hàng ngàn lần như vậy thì khó gì có thể tồn tại được cũng như tòa thành này, chỉ có những tấm gương chiến tranh anh dũng hy sinh của các anh, của các chiến sĩ giải phóng quân vẫn sống mãi trong lòng tổ quốc, đồng bào và đồng đội.
Để tham quan di tích của thành cổ Quảng Trị hôm nay, chúng ta không chỉ đến với một di tích mà còn đến với nghĩa trang không có một nấm mồ nào. Di tích thành cổ Quảng Trị hôm nay, nghĩa trang thành cổ Quảng Trị hôm nay nó tương đương với nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn, nhưng khác nhau ở chỗ, nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn có hơn 10 ngàn ngôi mộ, nhưng tại đây chỉ có đài tưởng niệm này là ngôi mộ chung duy nhất mà thôi. Tại đây 81 ngày đêm hàng ngàn chiến sĩ ta chiến đấu anh dũng và hy sinh nhưng hài cốt các anh nguyên vẹn tìm thấy được đến giờ chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Hiện nay tại bảo tàng di tích thành cổ Quảng Trị có trưng bày một số di vật của các liệt sĩ rất xúc động thiêng liêng. Trong đó 2 di vật tiêu biểu nhất là di vật của liệt sĩ Lê Minh Trừng và di vật của liệt sĩ Lê Văn Huỳnh. Di vật của liệt sĩ Lê Minh Trừng được tìm thấy tại thành cổ này ở góc phía tây vào năm 2000.
Trường hợp này rất xót xa và xúc động. Vào năm 2000 trong lúc các công nhân đang thi công hệ thống thoát nước ở cổng phía tây bên này thì ban quản lý đã đào trúng một căn hầm bị sập . Sau khi kiểm tra thì ban quản lý phát hiện trong căn hầm đó có hài cốt của 5 chiến sĩ đã hy sinh trong tư thế là bị chết ngạt, nhưng vẫn đang trong tư thế sẵn sàng chiến đấu. Trong 5 bộ hài cốt đó có 4 bộ hài cốt không có tên tuổi, duy nhất bộ hài cốt còn lại thì trên mình chiến sĩ mang một sắc cốp, khi ban quản lý mở ra thì trong đó có túi ni long được buộc rất kỹ đựng một số giấy tờ, 2 lá thư và 2 bức ảnh. Lần theo địa chỉ đó cuối cùng ban quản lý di tích cũng biết được anh có bức ảnh có tên là Lê Minh Trừng quê anh ở Quỳnh Mỹ, Quỳnh Lưu, Nghệ An. Năm 1970 anh đã cùng đơn vị vào tham gia chiến trường miền Nam, trên đường hành quân đơn vị anh đã đóng quân tại tỉnh Quảng Bình và tại đó anh đã yêu một cô gái, cô du kích địa phương, chị có tên là Phan Thị Mỹ Khơi và đó là bức ảnh thứ 2 tìm thấy trong sắc-cốt. Sau đó thì anh chị đã đến với nhau và có với nhau 1 đứa con, cháu trai được đặt tên là Lê Quảng An, anh chị lấy tên quê hương của anh chị Quảng Bình, Nghệ An để đặt tên cho cháu. 2 năm sau anh Trừng chia tay vợ con để tiếp tục cùng đơn vị vào tham gia chiến trường Quảng Trị và tại thành cổ Quảng Trị 81 ngày đêm khốc liệt anh đã hy sinh trong căn hầm bị sập đó. Sau khi biết tin chị Khơi đã quyết định bồng cháu An lặn lội ra tận Nghệ An để tìm gặp ông bà nội.
Trong số hàng ngàn chiến sĩ đã hy sinh trong cuộc chiến 81 ngày đêm ở thị xã và Thành Cổ Quảng Trị, có rất nhiều học sinh, sinh viên của các trường miền Bắc. Họ đã xếp bút nghiêng lên đường chiến đấu theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc. Trong đó có liệt sỹ Lê Văn Huỳnh, quê xã Lê Lợi – Huyện Kiến Xương – Tỉnh Thái Bình mà di vật của anh đang được trưng bày ở đây.
Anh Lê Văn Huỳnh khi đó là sinh viên năm thứ 4 trường ĐHXD Hà Nội. Có vợ là Đặng Thị Xơ (cùng quê với anh). Sau khi cưới vợ được 6 ngày, chưa kịp có con thì tháng 5 -1972 anh đã theo lệnh Tổng động viên vào tham gia chiến đấu ở chiến trường Quảng Trị. Đầu tháng 9/1972 anh nhận được lệnh làm nhiệm vụ đưa hàng tiếp tế qua sông Thạch Hãn. Như biết chắc rằng rồi đây mình sẽ hi sinh, anh đã bình thản làm cho mình một tấm bia bằng tôn ghi rõ họ tên, ngày tháng năm sinh, quê quán của anh. Sau đó anh viết thư vĩnh biệt gửi về cho gia đình. Thư anh viết rất xúc động, đầy trách nhiệm trước gia đình và Tổ quốc. Tôi xin trích đọc một số đoạn như sau:
Quảng Trị ngày 11/9/1972
Toàn gia đình kính thương!
Hôm nay, con ngồi đây biên vài dòng chữ cuối cùng phòng khi đã đi nghiên cứu bí mật trong lòng đất thì gia đình khỏi thấy đó là điều đột ngột.
Mẹ kính mến!
Lớn lên trong tay mẹ từ khi còn trứng nước, chưa đền đáp được công ơn to lớn đó của mẹ thì đứa con út của mẹ đã phải đi thăm bố con rồi. Thư này tới tay mẹ chắc mẹ buồn lắm. Lòng mang nặng đẻ đau, giọt máu đào hơn ao nước lã, lá vàng còn ở trên cây – lá xanh rụng xuống trời ơi hởi trời. Con của mẹ đã đi xa để lại cho mẹ nổi buồn nhất trên đời. Con rất hiểu đời mẹ đã khổ nhiều, nay bao hy vọng nuôi con khôn lớn, song vì đất nước có chiến tranh, thì mẹ ơi hãy lau nước mắt cho đời trẻ lâu, sống đến ngày đón mừng chiến thắng. Con đi, mẹ ở lại trăm tuổi bạc đầu, coi như con lúc nào cũng nằm bên mẹ, mẹ đừng buồn cho linh hồn con được thoải mái ra đi. Bố con đã đi xa để lại cho mẹ biết bao khó nhọc, nay con đã đến ngày khôn lớn thì …Thôi nhé mẹ đừng buồn, coi như con đã sống trọn đời cho Tổ Quốc mai sau.
Đoạn thư anh viết cho người vợ mới cưới của mình.
Em yêu thương!
Anh biết em sẽ không đọc nổi lá thư này vì biết bao nổi buồn đang đè nặng lên tấm thân người con gái trẻ tuổi như em. Nhưng em ơi hãy bình tĩnh làm theo lời anh căn dặn, còn ngày anh đi xa là ngày anh đề ngoài phong bì mà nhờ bạn anh gửi giúp. Em sẽ đọc thư này cho mọi người trong gia đình nghe trong buổi lễ truy điệu anh. Cho anh gửi lời chúc sức khoẻ tất cả những người quen thuộc trên quê hương trong buổi lễ truy điệu lịch sử này. Thôi nhé em đừng buồn, khi được sống trong hoà bình hãy nhớ tới lòng anh.
Đoạn thư anh viết cho bố mẹ vợ.
Thầy mẹ kính mến!
Con mong thầy mẹ đừng buồn nhiều, mạnh khoẻ cho đời mãi mãi kéo dài đón mừng ngày thống nhất. Thầy mẹ ạ! Chúng con sống với nhau chẳng được bao lâu,thì nay đã…Chắc em nó buồn lắm, thầy mẹ động viên em thay con. Theo con đời em con trẻ lắm, nếu ai người ta thông cảm thầy mẹ động viên em nó nên đi thêm bước nữa. Cứ ngày này thầy mẹ hãy nhớ tới con. Thôi tất cả những gì đã qua là vào dĩ vẳng ra đi con mong thầy mẹ khoẻ, sống lâu mãi mãi. Cho con gửi lời chào bà, các cậu và họ hàng thân thuộc.
Sau khi hoàn thành bức thư, đúng 3 tháng 20 ngày sau tức ngày 2/1/1973 anh Lê Văn Huỳnh đã anh dũng hi sinh khi đang làm nhiệm vụ.
Vào năm 2002, hài cốt của anh đã được tìm thấy bên dòng sông Thạch Hãn ở thôn Thượng Phước, xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong và được đưa ra an táng tại quê nhà. Chị Đặng Thị Xơ vẫn ở vậy ngày đêm hương khói cho anh.
Chiến tranh đã lùi xa, nhưng dư âm của cuộc chiến 81 ngày đêm mùa hè lịch sử thì vẫn còn đó. Thành Cổ Quảng Trị và dòng sông Thạch Hãn trở thành tượng đài lịch sử trong tâm khảm đồng bào cả nước. Nơi đây mãi là cội nguồn cho những xuộc hành hương ngược dòng kịch sử cho những ai muốn chiêm nghiệm lẽ sống và sự hy sinh bất tử.
|
Kết thúc cuộc Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại của nhân dân Xô-viết người ta đau xót thống kê rằng, trên toàn đất nước Xô-viết hầu như còn rất rất ít thanh niên trong độ tuổi 18 đến 30. Bất cứ một cuộc chiến tranh nào cũng đem lại một mất mát to lớn cho nhân dân, nhưng tổn thất lớn nhất là tổn thất dành cho tuổi trẻ. Đáng nhẽ ra họ còn được học hành, được cống hiến.
Đúng vậy, chiến tranh đã lùi xa, nhưng cuộc chiến trong lòng người không phải lúc nào cũng im tiếng súng. Một ngày ta bỗng nhận ra dù là lòng hận thù chiến bại hay lòng tự hào chiến thắng cũng đều là vô nghĩa. Chỉ có ước vọng về hòa bình vĩnh cửu của nhân loại là bất diệt.
__________________
Blog của PhuongNN ở đây
The end is coming and coming fast (faster than we've thought)!
|