View Single Post
  #3  
Cũ 22-03-2008, 22:34
fresco's Avatar
fresco fresco is offline
Sủi cảo Nga - Пельмени
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 163
Cảm ơn: 47
Được cảm ơn 500 lần trong 124 bài đăng
Default Thùy dương nguyên thủy

Câu chuyện mỗi lúc một đậm đà, thẳng thắn hơn không còn chút dấu vết gì của sự gượng gạo, nghi ngại ban đầu. Phần do câu chuyện đưa đẩy, phần vì muốn xua tan cảm giác khó chịu lúc đầu gặp gỡ, cả hai đã nốc rượu hơi nhiều trong buổi tối hôm ấy.

Chí ít ra cuối buổi, khi những trống, những kèn cùng cả dàn nhạc đột ngột vang lên và cả phòng ăn bắt đầu phụ hoạ theo, nhấp nhổm, rậm rịch Buđrix lấy làm ngạc nhiên thấy mình cũng gào thét hết cỡ và nếu như còn chưa xông ra nhảy thì chỉ vì không dám chắc mìmh nhảy có nên hồn không.
Mỗi thành phố cảng đều có bài hát riêng, kiểu như một bài ca chính thức mà mỗi khi cất lên thì đố ai ngồi yên được. Ai không chồm dậy, tức khắc bị xem là kẻ phản bội quê hương, hay chí ít ra cũng là kẻ láo xược, dám phỉ nhổ vào mọi truyền thống thiêng liêng của quê cha đất tổ. Cũng như thể ở Mỹ mọi người thường nói: “ Chẳng thà anh cứ nhổ tọet vào tượng Oasihtơn còn hơn là làm như thế”.

Nơi đây, khúc ca như vậy là một bài hát mộc mạc cổ xưa về cô gái “Si mê-ê cha-àng thuỷ thu-ủ!!!”
Anh không phải thầy lang!
Chẳng phải anh bán thuốc!
Chẳng phải gã lái buôn!
Tôi khóc, nhưng chẳng tiếc!!!
Rằng không yêu Jokê
Rằng chẳng mê hàng thịt
Chỉ mê chàng Thu-y Thu-ủ!!!


Họ hát hăng say, say sưa đến cuồng nhiệt:
Chỉ anh biết mây ngủ nơi nao
Chỉ anh hay bão ẩn chốn nào
Và khi nào hoa chuối nở
Trên quần đảo Ha-oai


Cảnh vật xung quanh như trong sươngmù và Buđrix hình như lẫn hộn lung tung lời ca:
Ôi anh thuỷ thủ, biết bao giờ
Anh mới trở về phố cảng?
Chàng thuỷ thủ lênh đênh biển khơi
Như mây lang thang bốn phương trời!


Các chàng trai săn cá voi giậm chân thình thịch, như thể đi những đôi ủng nặng hàng pút. Từng cặp từng cặp vụt qua trước mặt Buđrix, có cả các vị thuyền trưởng đầu tóc đã bạc phơ. Trông chả khác gì điệu nhảy của thổ dân da đỏ hoặc vũ khúc của đám người bị cấm nhảy múa hai chục năm liền.
Chỉ mê-ê cha-àng thu-ỷ thu-ủ!!!
Buđrix thấy Vaxin nhún nhảy, mặc dù vẫn ngồi tại chỗ. Bài hát hơi thô thiển, vậy mà vẫn khiến cậu ta phấn chấn một cách chân thành. Điều đó chứng tỏ rõ ràng nhất Vaxin là dân bản địa gốc, tổ tiên từng chôn rau cắt rốn ở thành phố cảng này.
Đồng thời với ý nghĩ ấy, Buđrix chợt nhận ra miệng anh cũng đang hát theo điệp khúc của bài ca.
- Thế là cậu cũng được chịu lễ rồi đấy- Vaxin nói- Gìơ, cậu coi như được rửa tội rồi.:
Tiếng “cậu” có nghĩa như một sự công nhận từ nay Buđrix Xêvêrin là “người mình”. Qua bài ca mộc mạc này anh như thể ghé nhìn được tận tâm hồn của thành phố cảng. Từ đấy anh kết bạn với Vaxin Paplốp. Chẳng bao lâu sau anh nhận ra rằng anh hoàn toàn không quan tâm đến chuyện Vaxin có khoe khoang hay không, bốc phét hay chỉ ba hoa chút xíu. Bởi vì anh đã nhìn nhận ở người bạn mới một phần linh hồn của thành phố cảng- cái linh hồn là cỗi rễ của nó: vừa tháo vát, vừa hiếu động, quả cảm và khí huênh hoang, gai góc nữa, làm việc thì hung hục và luôn sẵng sang thi thố những chuyện không ai tưởng tượng nổi.

Đó không phải chỉ là cái váng đọng trên bề mặt thành phố nào cũng có, mà ở đây cũng chẳng hiếm. Cái Buđrix phát hiện ở Vaxin chính là tâm hồn người tiên phong mở đường. Bây giờ anh chẳng bận tâm chuyện Vaxin có là quán quân hay không, cụ tổ cậu ta từng yêu Vera Phicker hay đó cũng chỉ là thứ tiếng “Nhật Bản”, như bà nội thổ dân Giava.
Thế đấy. Và bây giờ Vaxin lại vừa mới gọi điện.
Còn sớm, nên Buđrix đi bộ hai trạm xe buýt, rẽ ra vịnh để qua cảng ra bến tàu
Nước vỗ ì oạp giữa các mạn tàu. Mặt nước lềnh bềnh những thùng , hòm với các hang chữ viết bằng đủ thứ tiếng, dập dờn những dây rong biển. Mùi vị của nước biển ở đây mằn mặn, sặc mùi dầu mỡ- đầy mặt nước loang lổ ngũ sắc cầu vồng!- Nồng nặc mùi rong rêu thối mục- Cái mùi vị ấy dường như lan tràn khắp thành phố.

Có mấy người ngồi trên thành bến câu bằng mồi tôm. Buđrix đứng lại xem. Thỉnh thoảng từ dưới lớp màng ngũ sắc sặc sỡ ngăn đôi đất trời, họ kéo lên những con cá hồng . Chẳng hiểu cá có bị ám mùi xăng không?
Đột nhiên, nỗi nhớ quê da diết đâm nhói vào tim như một lưỡi dao nhọn hoắt.

“Cá hồng. Một giống cá biển. Cũng có ở sông. Ở quê mình. Ở đấy, người ta câu nó dưới làn nước trong vắt ở hồ. Hồ Ôxvêi. Hồ Narôtra. Rồi một cái hồ nào đó nữa mang một cái tên Hồ vui hay hồ Con gái. Ở sông Lutrêxa. Cả ở sông Đơnheprơ nữa. Trời ! sao tôi lại lưu lạc đến chốn này nhỉ? Phải chạy về phương trời kia chứ! Phải về đó chứ! Tôi đi xa nơi ấy từ tuổi bé thơ. Nhớ nhung khôn xiết! Thế nhưng “sếp” lại bảo: “ Thế này nhé: chúng tôi dành cho đồng chí một thời gian khá dài để đồng chí phục hồi sức khoẻ. Đồng chí hãy nghỉ ngơi, chuồn cho thật xa tít mù tắp, như người ta thường nói. Yêu đi, câu cá đi nếu muốn- rượu chè bí tỉ cũng được. Miễn là đồng chí trở lại trạng thái bình thường như trước… Tóm lại, muốn làm gì thì làm. Nếu không tôi e rằng chúng tôi sẽ mất đồng chí mất thôi. Vậy mà chúng tôi, riêng tôi nữa… rất không muốn điều đó phải xảy ra. Tôi để mắt tới đồng chí từ khi đồng chí còn ngồi trên ghế nhà trường kia - Chắc sếp đột nhiên mất hứng, ông đưa mấy ngón tay lên xoa xoa cái mũi chim nhọn hoắt. - Đồng chí không ngờ à? Ra thế đấy. Đồng chí được tuyển dụng vào nơi cần thiết bởi vì tôi, chúng tôi đã nghe nói tới đồng chí, nên từ đấy chúng tôi đã theo dõi… Sau này tôi cứ quan sát đồng chí và mừng, tôi biết mình đã được một người có thể…”

Tiếp theo, ông buồn bã phẩy tay. Hai người ngồi nói chuyện trong gian phòng làm việc to rộng trống chếnh của sếp, nơi ông rất ít khi có mặt. Một điều hoàn toàn khác thường nữa là, vốn chẳng bao giờ thích uống rượu, thế mà hôm ấy sếp lại lôi từ đâu lên bàn một chai Cônhắc với hai cái ly. Họ cùng cạn một ly, rồi ngồi nói chuyện tào lao, thành ra “giết” cả một ngày, bởi vì cả hai đều không thể làm việc được nếu đã uống dẫu chỉ một ngụm rượu. Sau đó sếp- một người chưa hề giãi bày với ai nhứng điều như vừa nói với anh – nút chai rượu lại.

- Thế đấy, kiệt sức rồi. Tôi rất hiểu. Mệt làm sao? Thần kinh căng thẳng, mất ngủ, những cơn ác mộng phải không?
Buđrix lặng lẽ gật đầu. Bỗng chai rượu nổ “bốp “ cái nút lên trần. Anh cán bộ khoa học trẻ giật bắn mình, làm bộ mặt sếp dài ra và khoé mắt vụt ánh lên một vẻ kỳ lạ, một nỗi lo âu kín đáo, một sự cảm thông sâu sắc. Anh lại có cảm giác nó giống mặt chim, chăm chú và sợ sệt. Nhưng ông tức khắc cố gắng xua đuổi tâm trạng yếu đuối ấy. Sếp cười khẩy:
- Nó nhắc ta rót nữa đây. Giỏi lắm, nào thì rót.

Sếp cạn ly, đoạn nói đột ngột nói với một giọng trìu mến và lo lắng mà đến tận bây giờ Buđrix không thể nào quên được.
- Chuồn càng xa càng tốt. Nghỉ cho thật thoải mái. Cố gìn giữ cái đầu con ạ. Có cái đầu như thế mà không biết giữ gìn là phạm tội đấy. Thôi, đi nhé! và phải trở về khoẻ mạnh đấy.
Ông ôm hôn anh. Và cả điều đó nữa cũng chưa từng có, kể từ ngày khai thiên lập địa cái thế giới riêng của họ, nơi cũng có thượng đế riêng cùng những thánh nhân tử vì đạo.

…. Anh chuồn quả là xa. Nhưng có lẽ không đúng phương trời anh cần đến. Kể cũng lạ, song thực tình chỉ sau câu chuyện với sếp anh mới ý thức rõ tình trạng của anh quả nghiêm trọng, gần như vô phương cứu vãn. Cả cơ thể vốn cường tráng, cả cái đầu xuất chúng (giờ đây, khi mà đôi lúc anh còn hiểu nổi những điều đơn giản nhất và thương phải ngồi ngẩn ra cả nửa tiếng đồng hồ mới thâu tóm được một ý nhỏ, một công thức hay một sơ đồ, thì anh chẳng việc gì phải ngần ngại trong cách nhận xét về bản thân anh trước kia), rồi trí nhớ, rồi cả trực giác nhạy bén nữa- Tất cả thế là tiêu ma. Bộ máy phức tạp của cơ thể anh đã hỏng hóc ở một bộ phận nào đó. Chỉ thảng hoặc nó mới phục hồi được công suất mạnh mẽ khi xưa, còn thì anh thường thấy thần kinh căng thẳng, cơ thể nặng nề, mệt mỏi từ sáng sớm. Đêm nào cũng khủng khiếp…

Anh bước đi dưới mấy cái cần cẩu “Xunaimôtô” chân đứng khòng khòng như thể ngồi xổm xuống nghỉ ngơi chốc lát sau một ngày mang vác cực kỳ nặng nhọc. Trên mặt nước, giữa đám rác rưởi cạnh hồ, bông bềnh một quả bóng của trẻ em, bóng lộn như trứng gà bóc trên điện thờ. Nó ở đâu ra nhỉ? Sóng nước đưa nó từ đâu tới vâyj? Từ bến bờ Triều Tiên hay Nhật Bản? Hay từ những mỏm đá lầm lì trong sương mù miền Tiêcnêi?

Chảng hiểu vì sao, không có một chút liên hệ logich nào với những ý nghĩ đó và trước đó nữa, anh sực nhớ đến dòng sông quê hương, mặt hồ quen thuộc và bản thân anh, một cậu bé nơi thôn dã. Nói gì thì nói, dẫu sao cậu bé quê mùa ấy đã phải gánh lên đôi vai bé thơ một tải trọng quá sức: “thần đồng”, “năng khiếu đặc biệt”. Đâu phải lỗi tại cậu, nếu như ngoài ra tạo hoá còn ban cho cậu đôi mắt luôn khao khát ngắm nhìn cảnh vật thiên nhiên muôn màu, đôi chân luôn háo hức những nẻo đường xa, và một trái tim lúc nào cũng bồn chồn ngóng đợi những chuyện diệu kỳ? Chắc hẳn, lẽ ra nên thả sức bay bổng, cho con tim chứ không phải cho cái đầu; trong cuộc tranh giành với con tim, cái đầu của anh hẳn đã kiệt quệ nên mới hỏng hóc vào đúng lúc anh ngạo mạn cho rằng đối với bộ óc của anh không còn gì là không thể đạt tới. Phải chăng anh sẽ không hạnh phúc hơn nếu như biết sống vẹn cả đôi đường? Ví thử anh trở thành một thuyền trưởng chả hơn ư? Đây kia làm thuyền trưởng cái tàu con hùng hục xuôi ngược kia kìa (tên nó là gì nhỉ? “Oócsa” (một tỉnh lớn của Bêlôruxia). Lại chúa! Tận góc biển chân trời này cúng có “Oócsa” quê tôi). Tha hồ mà loay hoay với máy móc, với con số, tha hồ mà suy nghĩ, mà sáng chế cải tiến (và được mãn nguyện nữa), đồng thời lại được hoà mình với biển cả, với không gian mênh mông, được sống giữa tình người bình dị, vui cái vui mộc mạc mỗi khi đón gặp con tàu đi ngược chiều, để rồi phút sau, mỗi tàu mỗi ngả, chỉ còn thấy trong đêm đen nhấp nhoáng xa dần ánh đèn tìn hiệu trên tận đỉnh cột buồm…

….Những hòn đảo xa lạ- Anh ngồi lặng đi trước vẻ đẹp thiên nhiên. Gía như bộc bạch được những nỗi niềm anh đang cảm với mọi người! Nhưng trong đời, anh chưa từng đặt nổi một vần thơ. Bởi vậy mà bao nỗi niềm chưa dốc ra được, chưa nói lên thành lời, đều ứ lại trong lòng, tràn ngập tâm khảm, và vì không tìm ra lối thoát nên đã thúc bách anh mơ mộng về những chân trời xa lạ, về lẽ công bằng tuyệt đối, về những người đàn bà tuyệt diệu, về chân lý, giản dị như vần thơ vĩ đại, về những rừng rú hoang sơ bí ẩn, về những thảo nguyên bát ngạt hương như một vườn đầy hoa, về lòng nhân bất biến, về hạnh phúc tràn trề. Nhưng không một điều trong bấy nhiêu ước vọng trở thành hiện thực, rút cục gánh nặng ấy đã đè bẹp anh. Không thể kìm hãm vĩnh viễn những ước vọng thiêng liêng nhất, sự bùng nổ tất yếu phải xảy ra.
Như trong rừng sâu, anh lạc mất đường giữa những toà nhà đá, giữa những dãy máy móc và con số. Chúng đã trả thù anh một cách tàn nhẫn.

Buđrix chợt nhớ đến bức tranh biếm hoạ cay độc anh đã xem trong một tờ tạp chí kỹ thuật của Mỹ. Một cỗ máy khổng lồ với hàng chục nghìn nút bấm, cần điều khiển, và lọt thỏm trên bệ máy là một hình người tí xíu đang phủ phục hí hoáy chữa chạy gì đó. Thoạt tiên anh chưa hiểu ra ngay ngụ ý. Chuyện ngày nào chả thấy, có gì mà châm mới biếm! Nhưng xem kỹ hơn anh mới phát hiện ra phía dưới thắt lưng thằng người cắm một chìa khoá nhỏ kiểu vẫn dùng để lên dây cót ở những chiếc ô tô đồ chơi trẻ con. Qủa là một nụ cười ác độc! Tuy nhiên, cũng có một phần chân lý. Như thế đấy, anh bạn Buđrix thâm mến, anh cũng hết cót rồi. Liệu có đến lựơt anh được lên dây cót không? Loại người còn đang xếp từng hàng dài vô tận kia.

Trong lúc làm việc hay vào những đêm mất ngủ, khi trước mắt chỉ còn thấy quầng sáng của ngọn đèn đêm hắt xuống tờ giấy cùng những con số, hay trong buổi tranh luận khi mọi người viện dẫn cả cả chuỗi công thức để mỉa mai, giễu cợt đối thủ, dồn đẩy ý kiến sai lầm của anh ta đến chỗ lố bịch… những lúc ấy thỉnh thoảng anh lại hồi tưởng đôi ba cảnh bình dị nhất: Bầy ngựa lông hung hung đỏ giữa đồng cỏ ngập nước, dãy dồi trọc trong sương mù ban mai, một chú hải ly lặn vội xuống nước ngay trước mũi thuyền… Ở các nhà văn viễn tưởng, mọi việc trở nên hấp dẫn hơn, bởi vì họ lo giải đáp những vấn đề khác, trong đó quan trọng nhất là vấn đề “cái con người” và “tính người”, vả lại, họ vẫy gọi chúng ta đến những bến bờ khác.

Còn anh, anh lại mơ ước về những điều đã không thành, những điều sẽ không thể có, về một cuộc sống tràn đầynhiệt huyết. Và bởi lẽ những điều đó đã không trở thành hiện thực, nên những con ngựa lông hung hung đỏ mới trả thù anh.

Anh nhớ lại buổi đầu gặp gỡ với thế giới khoa học rộng lớn. Ngày ấy người ta đem xe buýt đến chở ỡu thiếu niên các anh đi tham quan Viện Đupna. Cái lũ thiếu niên ngày ấu tràn trề hạnh phúc vì còn non trẻ, vì (giấu giếm làm gì!) biết mình có năng khiếu đặc biệt, vì những ước vọng và triển vọng xa xôi. Chúng tưởng có thể làm được tất cả. Nhưng riêng anh, ngày ấy anh đã cảm thấy một sự phân tâm. Phía bên trái đường đi là hàng cột thép ngất ngưởng kiêu hãnh dăng ngang trời những đường dây điện cao thế, phía bên phaỉ là Trấn Đơmitơrôp- vết tích một thành phố xưa kia từng cạnh tranh với cả Matxcowva, vậy mà nay tất cả vẻ hùng vĩ xưa chỉ còn lại một ngôi nhà thờ cổ, quét nước vôi trắng, thấp lè tè. Buđrix không biết anh quý cái gì hơn: bài tráng ca vang vọng phía bên trái hay phúc bi ca thâm trầm phía bên phải.

Ngày ấy, tất cả đều khiến bầy thiếu niên tài năng phải sửng sốt: bản thân thành phố khoa học, máy xincrôfazôtrôn như một lũy thép tròn khổng lồ, máy xinclôtrôn và phòng điều khiển. Tất cả đều vĩ đại đến kinh ngạc. Vậy mà cậu bé Buđrix vẫn không sao xua được khỏi đầu mình một ý nghĩ là xung quanh cái vương quốc lạnh lẽo ấy cả máy móc cùng khối năng lượng lớn chưa từng thấy, bị dồn ép vào giữa lòng sắt thép và bê tông, - xung quanh vẫn trải rộng rừng xanh bao la và chắc chắn nơi đó, những con gà rừng vẫn đang gáy.
Tia lửa ngọc bích trên màn ảnh ở bảng điều khiển kiên trì tiến lên, tiến lên không gì ngăn cản nổi, rồi bỗng khựng lại, rơi chéo sang một bên. Ngày ấy, họ trẻ trung biết bao! “Gienus” tuyệt diệu, người đồng hương, bạn nối khố, tấm lòng vàng! “Gienus” sẽ không đời nào phải khổ tâm vì nỗi muốn nói lên điều gì đó sâu sắc mà không nói nổi. Ở cậu ta năng lượng mãnh liệt và sức sống dồi dào như luôn sục sôi. Cậu ta biết rõ phải làm gì với tài năng trời phú cho, và chẳng hề bị ám ảnh bởi mặc cảm nặng nề dường như mình có lỗi về điều gì đó.

Ngày ấy, anh chẳng những đã nhìn thấy nhiều hơn họ, mà còn luôn miệng châm chọc, cười đùa ứng khẩu tuôn ra hàng loạt vần thơ nhại và những câu ca vô nghĩa đến ngu ngốc.
Chẳng hạn, “tình ca vật lý” nhại những bài hát ngày ấy về tình yêu, chẳng hiểu tại sao thường không nghiêm túc về tình yêu mà lại luôn mang giọng điệu mỉa mai, cười khẩy. Có mà quỷ biết, mọi người hết biết yêu rồi hay sao?
Cái anh chàng “Gienus” luôn mồm nghêu ngao những bài kiểu như :
Đôi ta định ra đứng ban công
Thì vào nhầm Xincrôfazôtrông
Rồi có cả Tử ca “vật lý” nữa:
Rượu, ta nốc cạn ba bi –đông
Tơ- rum-tu-rum-tu-rum
Chúc sức khoẻ Xiclôtrông
Tơ- rum-tu-rum-tu-rum.

Này, Gênka không còn nữa. Vài năm sau buổi gặp gỡ đầu tiên ấy, trong một lần làm thí nghiệm rất thành công, cậu ta đã lãnh đủ, không còn cách gì cứu chữa nổi…
Ngày ấy, lúc chiều tà họ cùng ngồi trong câu lạc bộ, thâm chí, lần đầu tiên trong đời, họ uống rượu và cùng ngồi với họ có một bác học nỏi tiếng người Ý gầy gò, gương mặt rất trí thức có vẻ mệt mỏi. Hai đứa đứa con của ông gần như đã thành dân Nga, suốt ngày đuổi bắt chim cu với bạn bè cùng lứa tuổi.

Buđrix bỗng muốn làm đẹp lòng ông, cả Gênca cũng vậy, nên cậu ta nâng cốc nói:
- Thưa bác Brunô Măcximilianôvich, chúng cháu xin nâng cốc chúc đất nước Italia!
Thế là anh, Buđrix, liền tiếp lời:
- Xin chúc quê hương chủ nghĩa nhân đạo!
Nhà bác học mỉm cười với họ, vẻ mặt chân thành và thoáng gợn buồn.

Cội nguồn của mọi cội nguồn, tuổi thanh xuân, niềm vui và sự tươi mát của tôi, mối tình thủa niên thiếu, “Gienus” sống động và vui nhộn của tôi! Tôi làm chuyến đi xa này để giành lại các bạn, dẫu là chỉ ở trong trái tim tôi. Tôi đứng ngắm biển Nhật Bản, nước xanh ngắt trong như thuỷ tinh, xô sóng vỗ vào những núi đá đen xì, bồng bềnh con tàu đơn độc ngoài vũng Chêchukhơ; tôi nhìn thấy thuỷ chiều dâng lên ngập chiếc ô-tô và thấy một chú chuột cắm đầu trốn chạy con nước, chẳng còn kịp suy tính gì, cốt sao thoát thân. Màu lông con chuột cũng lạ, trắng pha vàng.

Tôi đi dạo trên những súc gỗ dọc con sông miền rừng Taiga, nước vàng ệch chảy xiết. Tôi xua đuổi những con chuột beo màu da cam. Chúng treo lộn đầu trên cành mặc dù tôi đứng lặng cách chúng chỉ hai bước; chúng dương mắt nhìn tôi- Những cặp mắt như mắt nai long lanh, ươn ướt và quá to đối với con vật nhỏ bé như vậy. Tôi leo lên tảng đá giữa rừng Taiga và đứng treo leo trên đó như thể một cong ruồi đậu trên đỉnh một tảng đường. Tên tảng đá đó là Khaluza, và trái tim tôi chết lặng đi trước gió lộng và tầm cao, những cây tuyết tùng dưới chân núi trông chỉ bằng que diêm. Tôi đã nếm mật ong tại các trạm nuôi giữa rừng Taiga, đã lang thang khắp các thành quách hoang tàn của vương quốc Bôkhai xưa. Tôi lao đi đón những ráng chiều đỏ rực, và tôi đã tưởng mình bắt đầu hồi tâm… Vậy mà tất cả những gì tôi mất bao công sức gây dựng, phút chốc tan tành chỉ bởi một đòn.
Và giờ đây, lại thêm cơn ác mộng ấy nữa.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
Malina (19-05-2010)