Trích:
Nina viết
Hehe, các bác nói thế cũng thú vị thật, vì em cũng chịu, chẳng biết vốn từ tiếng Việt hoặc tiếng Nga của em là chừng bao nhiêu từ cả. Có cách nào ước lượng sơ bộ không các bác nhỉ, chứ bảo ngồi viết các từ mình biết ra rồi đếm thì không được
Trước đây, em có một thói quen rất xấu. Chẳng hiểu tại sao, nhưng khi gặp một từ rất dài, thì thường em chỉ nhìn được đầu và đuôi, không nhìn được khúc giữa. Phần không nhìn được thì em thường phỏng đoán, xác suất cũng khoảng 50%. Thành ra nhiều khi đọc cả câu xong thấy cực kỳ vô nghĩa, kiểm tra lại thì hóa ra mình đoán nhầm! Mãi khi về Việt Nam mới bỏ được tật này - vì từ trong tiếng Việt thì không dài.
|
Mấy ai chính xác được theo yêu cầu của Nhi-nô-trơ-ca.
Song cũng có một cách ước tính, thường được giới khoa học gọi là phương pháp tính Fec-mi* (đặt theo tên của Enrico Fermi, 1901-1954).
Nói chung, các ngôn ngữ trên thế giới, cái giàu hơn, cái kém hơn, đều có quãng chừng 150-200 ngàn từ/thuật ngữ (hô hô, tính theo số entries trong tự điển bách khoa thư chẳng hạn thì có thể hơn,
say 250-270 ngàn). Đơn vị từ thì có thể ít hơn, 100-150 ngàn, hơn kém tùy sự phát triển của chính từng ngôn ngữ. Hầy dà, ta cứ cho là chừng 15-20 ngàn từ gốc đi, ngoài ra là các từ phái sinh - chẳng hạn một từ trung bình sẽ tạo ra chừng dăm (~5) từ khác: từ danh từ ra tính từ, trạng từ, động từ, thêm tiền tố, vĩ tố... Ngoài những từ kiểu có thể tạo từ mới từ chúng ra, cũng có nhiều từ có rất ít từ tạo từ chúng. Tổng số từ gốc không thể tạo từ từ chúng và các từ có thể tạo từ, cùng các từ phái sinh như vậy sẽ tạo nên con số chừng 100 - 150 ngàn đơn vị từ nói trên kia.
Một người cầm lấy một tờ báo/một tài liệu/một văn bản nói chung hiểu và đoán tương đối chính xác nghĩa các từ/thuật ngữ, tính trung bình (nhớ là trung bình tính trên tập mọi tài liệu có thể có) vào cỡ trên 50% là khá giỏi ngôn ngữ đó rồi. Nếu tính rằng số từ biết sử dụng khá tốt với một ngoại ngữ của một người là vào cỡ 50% số từ gốc, thì đó sẽ ra con số 7-10 ngàn từ thôi. (trong các sách học ngoại ngữ, ta có thể thấy, nói chung người ta sẽ chỉ tập trung trang bị cho chúng ta những từ gốc thông dụng thôi chứ các từ phái sinh hay từ ghép sẽ ít hơn nhiều, các từ phái sinh khác thì thường được để cho người học sẽ tự tìm hiểu trong quá trình sử dụng ngôn ngữ).
Vậy, ta có thể tự đánh giá mình hiểu chừng bao nhiêu phần trăm ngôn ngữ để luận ra được số từ ta biết và số từ ta hoàn toàn làm chủ, phải không Nhi-nốt-trơ-ca?
*) Enrico Fermi có cách (ước) tính riêng của ông (Fermi problem hay Fermi estimate), được gọi rộng ra cho các phép tính ước lượng dựa trên các suy luận trung gian.
Ngày thử quả bom nguyên tử đầu tiên, các nhà khoa học cha đẻ của quả bom ấy đều nấp ở căn hầm cách xa chỗ quả bom nổ. Vào lúc quả bom nổ và sóng xung kích tới chỗ hầm trú ẩn, Fermi thả một nắm giấy (đã xé vụn trước đó từ sổ tay của ông) xuống, bằng cách đo chiều dài của dải vụn giấy bay ra xa dưới tác động của sóng xung kích, ông nhẩm tính được khá gần đúng đương lượng nổ của quả bom.
Fermi was present as an observer of the Trinity test on July 16, 1945. Engineer Jack Aeby saw Fermi at work:
As the shock wave hit Base Camp, Aeby saw Enrico Fermi with a handful of torn paper. "He was dribbling it in the air. When the shock wave came it moved the confetti. He thought for a moment."
Fermi had just estimated the yield of the first nuclear explosion. It was in the ball park.
Fermi's strips-of-paper estimate was ten kilotons of TNT; the actual yield was about 19 kilotons.
nguồn:
http://en.wikipedia.org/wiki/Enrico_Fermi
Một thí dụ khác của kiểu tính Fermi là tính bán kính trái đất. Một người Mỹ có thể không thuộc giá trị bán kính trái đất (~6400 km) song có thể tính như sau: Từ bờ đông sang bờ tây nước Mỹ là khoảng 4500 km, trải trên 3 múi giờ, vị chi mỗi múi giờ quãng 1500 km. Trái đất gồm 24 múi giờ, vậy chu vi trái đất chừng 36 000 km, vậy R ~ 36 000 km/6 (~2.pi) ~ 6000 km. Sai số 400 km/6400 km là chừng 6%.
Có thể kể ra vô số thí dụ về cách tính như vậy.