Khoang lính có 7 chỗ được đặt sau khoang chiến đấu. Có 2 vi trí ngồi đằng trước xe và nhóm 5 người được đặt ở phía sau gần vách ngăn khoang động cơ. Ở đó có những đường ống cung cấp dưỡng khí cho binh lính. Ở đó còn có những cái hộp chứa khẩu phần thức ăn hàng ngày cho cá nhân và hộp SPTA. Chiếc xe có ba cửa nắp phía trước, hai cửa nắp trên tháp pháo và hai cửa nắp ở khoang lính, ngoài ra khoang lính còn có thể mở cửa đuôi và nắp khoang nếu muốn. Khoang động cơ đặt ngay dưới khoang lính, hai khoang này được ngăn cách với nhau bởi một bức tường cách âm. Xích xe và hệ thống giảm xóc bao gồm 6 bánh truyền động và các con lăn hỗ trợ. Bánh truyền động của xe bao gồm hai cái đĩa lót cao su ở ngoài. Thiết kế hệ thống treo của xe giúp cho nó di chuyển trên địa hình xấu ở mọi tốc độ mà không bị giằng xóc quá mạnh. Bánh xích và hệ thống treo của BMP-3 có tiết diện lớn hơn, cho phép nó có thể hoán cải thành các xe chức năng khác nhau. BMP-3 bơi nước bằng ống đẩy thủy lực phía sau chứ không bơi bằng bánh xích như BMP-1 và BMP-2. Sự hiệu quả của BMP-3 được thể hiện trong cuộc “thi” ở sa mạc Arab được kể lại bởi hai người tham dự, người đầu tiên là phó Ban Thiết giáp của Bộ QP Nga, trung tướng N. Zhuravlev và phó Cục thiết kế Tula, S. Berezin. Vào ngày 27-7-1991, chiếc máy bay An-124 “Ruslan”, hạ cánh xuống sân bay Abu-Dhabi, mang theo 4 chiếc BMP-3, những chiếc xe thiết giáp lăn xích qua con mắt tò mò của những sĩ quan Các tiểu Vương quốc Ả Rập thống nhất (UAE). Không có gì biểu hiện rằng, chiếc xe này sẽ được chọn bởi những người lãnh đạo Arab đầy quyền lực.
Vô lăng của BMP-3