View Single Post
  #94  
Cũ 22-01-2011, 10:53
nqbinhdi nqbinhdi is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Sep 2009
Đến từ: Hanoi
Bài viết: 1,469
Cảm ơn: 1,185
Được cảm ơn 4,002 lần trong 1,122 bài đăng
Default

Trích:
Huonghongvang viết Xem bài viết
Em thì nhớ đến những ngày thơ ấu và thời thanh niên trong chiến tranh còn TBHP hôm đó lại bồi hồi, xúc động khi nhắc lại kỷ niệm đã “tàn phá” bao nhiêu là cỏ, cây ở sườn núi Phù Liễn khi hai vợ chồng mới yêu nhau.
Đọc “trận đánh chặn máy bay Mỹ từ cửa ngõ phía Tây Thành phố Cảng ngày 17/11/1965" vẫn cảm thấy rất hân hoan trước chiến thắng oanh liệt của quân và dân Hải Phòng. Thế còn chuyện liên quan đến trận đánh máy bay Mỹ trên cầu Lai Vu (Hải Dương) năm 1965 thì như thế nào em kể nốt đi. Cái topic “ngày xưa ơi” đang hay tự nhiên bị dừng. Tiếc quá. Em kể tiếp vào đó được không? Hay là em lập một topic mới tên là “những kỷ niệm không quên” hoặc “kỷ niệm ngày xưa” gì gì đó chẳng hạn nhỉ?
Lời kể của cha

Cuối tháng 8 năm 1965, tôi theo gia đình hàng xóm sơ tán về Vĩnh Bảo. Trước đó, từ tháng 3 năm ấy thì tôi và chị tôi về quê ngoại ở Quảng Yên sống cùng bà ngoại và đi học ở trường làng. Quảng Yên khá xa xôi cách trở với Hải Phòng bởi hai cái phà: phà Bính trên sông Cấm và phà Rừng trên sông Bạch Đằng, đều khá rộng và nằm trong tuyến đánh phá ác liệt của máy bay Mỹ suốt những năm của chiến dịch Sấm rền (Rolling Thunder) của Mỹ (từ 2-1965 đến 11-1968), không tiện cho việc cha-mẹ đi thăm chúng tôi. Vả lại, từ khi có tên lửa SAM-2, để bảo vệ Cảng Hải phòng, trên khu đồi ngay sau chỗ chúng tôi ở bộ đội đã kéo về đấy mấy bệ phóng tên lửa phòng không và mấy cụm cao xạ bảo vệ trận địa tên lửa, mà như thế thì máy bay Mỹ hẳn rồi sẽ xâu vào đó mà ném bom, bắn phá, sơ tán ở quê lại trở nên bất trắc. Vì vậy, sau hè 1965 tôi và chị tôi cùng về Vĩnh Bảo - xa thành phố cho an toàn. Chị tôi thì sơ tán theo trường cấp 3 Ngô Quyền về xã Hùng Tiến học nốt lớp 10, còn tôi thì theo gia đình bác sĩ Phạm Ngọc Khuê về sống và đi học lớp 4 tại thị trấn huyện Vĩnh Bảo. BS. Phạm Ngọc Khuê là BS từ thời Pháp, vốn là trung tá quân y QĐNDVN trong kháng chiến chống Pháp và là hàng xóm của gia đình chúng tôi ở phố Cát Dài. Là trí thức từ thời Pháp nên rất thân với gia đình tôi vì mẹ tôi cũng là trí thức cũ (cụ đã tốt nghiệp cao đẳng Pháp từ những năm 1930s, khi mà cả Đông Dương chưa có ĐH), vả lại cả tôi và chị tôi đều học cùng với các con của ông. Bác Khuê là bố của TS. Phạm Ngọc Thái, quân của BTL Công binh (làm NCS ở Tiệp) mà có lẽ bác baodung có biết (cùng trong Viện thiết kế, BTL công binh).

Bác Khuê gái theo Viện chống lao HP sơ tán về Vĩnh Bảo và được phân ở tạm trong một phòng học của Trường C3 Vĩnh Bảo lúc đó đang bỏ trống vì phải sơ tán. Dạo cuối tháng 10-1965, ngày ngày từ sáng, khoảng chừng vào lúc 8-9 giờ, sau khi chúng tôi đi học về (dạo ấy tất cả lũ trẻ con chúng tôi đều đi học từ 4h sáng - mỗi đứa mang theo một cái đèn Hoa kỳ, lớp thì có 1 cái đèn bão treo ở gần bảng - đến độ 7h30 sáng thì tan lớp, ai về nhà nấy để "tránh máy bay oanh tạc") thì máy bay Mỹ thường bay vào rất đông. Vĩnh Bảo nằm gần sát biển, về phía nam-đông-nam Hải Phòng, cách thành phố chừng 35 km đường chim bay, nên nằm trên đường bay máy bay Mỹ của Hạm đội 7 từ "Yankee Station"* bay vào đánh phá đường QL5 và Hà Nội. Sau khi trút bom, các máy bay của Hải quân Mỹ thường vẫn theo đường cũ bay ra, chỉ là không theo đội hình nghiêm chỉnh như lúc bay vào nữa thôi. Cả bay vào lẫn ra, chúng đều bay rất thấp, chỉ cách mặt đất chừng 150-300m, có khi xuống thấp đến chỉ 70-150m. Đến nỗi có hôm vừa đi học về, đang đánh bóng bàn trong cái phòng học bên cạnh phòng ở thì xoẹt một phát, nhìn ra chúng tôi thấy một cái máy bay to tướng, như bay sát mái trường, đít máy bay to như cái nón, tiếng rít như xé vải, gầm như sét đánh. Chúng bay thấp đến nỗi bên huyện đội cách chỗ chúng tôi ở mấy khoảnh ruộng nhỏ, mấy chú chỉ huy huyện đội cuống quýt rút cả súng ngắn bắn theo. Trên cánh đồng xã Tân Hưng, một ông du kích có trung liên cứ thế bê lên nã theo, song chúng bay thấp đến nỗi rê súng theo 1 tý là đạn đã đi căng ngang, máy bay thì không bắn trúng mà đạn trung liên thì lại hạ chết cả trâu của HTX đang thả gặm cỏ trên đồng. Được giao nhiệm vụ mang tiền đi xin mua thịt trâu cải thiện, lũ trẻ con chúng tôi về đến nhà vẫn còn chí chóe bàn chuyện dân quân hạ được "ép một trăm linh năm trâu"**.

Một cuối tuần cuối tháng 10, cha tôi xuống Vĩnh Bảo thăm tôi (từ Kiến An nơi ông cụ đóng quân cùng sư đoàn bộ binh 350*** xuống đến chỗ chúng tôi chưa đầy 25 km). Sau này cha tôi kể rằng sau khi nghe tôi líu lo kể chuyện máy bay Mỹ bay vào bay ra thấp lắm, tiếng rít kinh khủng đến nỗi cu Tý con út bác Khuê - khi đó mới lên 6 tuổi - đâm ra ngơ ngẩn mất cả tuần lễ, nửa đêm có khi mộng du vùng dậy chạy quanh khu trường rồi cứ chân lấm đầy bùn lại chui về giường ngủ mà sáng sau hỏi chẳng biết gì, cha tôi bèn lập tức dẫn tôi và thằng bạn tôi con bác Khuê (cũng tên là Bình, chỉ là vì da y đen quá đến nỗi dù tôi chẳng trắng trẻo gì cho cam mà trong lớp vẫn được gọi là Bình trắng, còn nó, tất nhiên là Bình đen!) lên theo ô tô của cụ ra đê chỗ phà Quý Cao để xem xét. Trong lúc ông cụ đi ngắm nghía địa hình và hỏi han dân chúng quanh khu bến phà, chúng tôi ngồi ngay trên đê mở bàn cờ tướng ra ngồi chơi.

Cha tôi kể lại, sau đó về sư đoàn, xem xét bản đồ và phối hợp thông tin, ban tham mưu sư đoàn nhận định bọn này chính là bọn máy bay vẫn hàng ngày từ Hạm đội 7 bay rất thấp để tránh bị radar phát hiện, lấy hai sông Văn Úc, Thái Bình và dải đất huyện Tiên Lãng kẹp giữa 2 sông ấy làm địa tiêu để bay vào, sát mục tiêu mới cất lên bổ nhào ném bom các cầu Lai Vu và Phú Lương trên đường QL5. Mừng rỡ vì phát hiện ra quy luật của địch - cha tôi thường lấy hình ảnh ví von là tìm thấy đường chuột chạy - ông cụ bèn bàn với ban chỉ huy sư đoàn tìm cách đón lõng, phục kích đánh bọn máy bay Hải quân này. Cha tôi khi đó đang là thiếu tá, tham mưu phó sư đoàn. Muốn đánh được bọn máy bay này mà không sợ chúng đánh lại thì phải có pháo phòng không. Cha tôi sang sư đoàn 363 phòng không**** đề nghị hỗ trợ, song bên đó cũng đang lo tối mắt tối mũi bảo vệ Cảng và các mục tiêu quan trọng trong thành phố, vả lại họ nói muốn có chi viện thì phải xin chỉ thị của Bộ tư lệnh quân chủng. Lo sợ mất thời cơ, cha tôi tức tốc đi Hà Nội, gặp đại tá Đặng Tính***** (lúc đó còn đang là tư lệnh kiêm chính ủy quân chủng Phòng không - Không quân chứ chưa vào Trường Sơn làm chính ủy đoàn 559) xin chi viện để đánh địch. Đại tá Đặng Tính bảo cha tôi là hiện ông không có pháo dư cho sư đoàn cha tôi mượn, pháo của quân chủng đang phải căng ra bảo vệ các mục tiêu chiến lược còn chưa đủ kia! Thất vọng trở về, cha tôi bàn với Bộ chỉ huy sư đoàn quyết liều một phen, bởi đánh bọn này quá ngon!

Nói là liều là vì mỗi một sư đoàn bộ binh lúc đó chỉ có 1 tiểu đoàn cao xạ 37mm (chỉ vài khẩu đội), chủ yếu có nhiệm vụ bảo vệ chỉ huy sở sư đoàn cùng với vài khẩu đại liên 12.7mm mà thôi. Bỏ ngỏ sở chỉ huy sư đoàn, mang lực lượng pháo với súng phòng không đó đi phục đánh bọn máy bay nọ, nhỡ địch phát hiện ra, không mang máy bay đi đánh cầu Lai Vu nữa mà đánh thẳng vào chỉ huy sở sư đoàn thì nguy to. Tuy nhiên, muốn đánh địch thì phải mạo hiểm chứ lấy đâu ra pháo bây giờ?

Vấn đề là tổ chức đánh địch. Chú Cát chỉ huy cao xạ sư đoàn được giao nhiệm vụ trực tiếp chỉ huy cụm Thành Công, cha tôi vốn trước đó là Thành đội trưởng HP thì được phân công chỉ huy dân quân các huyện Tiên Lãng, Vĩnh Bảo và Kiến Thụy (nằm ngay dưới đường bay của địch và cả vùng phụ cận) chuẩn bị phối hợp xây dựng trận địa và cùng bắn máy bay.

Không có trận địa pháo đâu. Cha tôi sau này kể rằng, sau thời kỳ 300 ngày****** bọn Pháp cài lại rất nhiều gián điệp mặt đất rồi bán cả cho Mỹ nên ở Hải Phòng gián điệp chắc nhiều như rươi (ngày tôi còn bé lắm, một hôm tự nhiên thấy rất nhiều công an đi xít-đờ-ca ập vào vây chặt xóm tôi ở Cát Dài và bắt đi một ông ở ngay dưới gác nhà tôi bởi ông ta là gián điệp cài lại, họ đào được trong nhà ông ấy cả một hầm súng, đạn, thuốc nổ và điện đài nữa - sau này tôi được biết rằng ông ta bị bắt trong cùng một vụ với vụ gián điệp nổi tiếng Nguyễn Minh Châu tức Cập hồi đầu 1960s, cùng hôm đó phía bên kia đường Cát Dài khu chúng tôi ở cũng có một tên nữa bị bắt trong ngõ Thuận Thái, trong danh sách các cán bộ chủ chốt của thành phố cần ám sát có cả tên cha tôi ngay gần trên đầu), để lộ ra, bọn gián điệp nằm vùng điện báo cho Mỹ thì hỏng cả.

Cha tôi chỉ huy chuẩn bị trận địa cao xạ thế nào? Cụ kể rằng trước ngày 17-11 mấy ngày, cha tôi ra lệnh dân quân mấy xã gần phà Quý Cao chặt tre vót các thanh đòn càn nhọn hai đầu, thật nhiều, nói thác ra cần góp đòn gánh cho bộ đội để khuân vác vận chuyển. Một số súng máy thì đã hành quân xuống trước 1-2 hôm, còn cao xạ thì tới đêm hôm 15 mới không bật đèn pha, chỉ bật đèn gầm ô tô, bí mật kéo pháo hành quân chừng 20 km từ sư đoàn bộ xuống ém kín tại khu vực trận địa. Cùng lúc xe kéo pháo xuất phát thì dân quân mấy xã được lệnh chặt chuối, càng nhiều càng tốt, lấy đám đòn càn nọ xuyên qua các cây chuối làm các mảng như bè chuối. Pháo xuống vào đến vị trí đặt pháo là lấy các bè chuối ấy dựng quanh thành cái lũy dày cả 6-7m che pháo. Chỉ nửa giờ là xong trận địa.

Dân quân các xã của các huyện Tiên Lãng, Vĩnh Bảo được lệnh hờm súng sẵn từ một hai hôm trước chờ địch vào, song không được nổ súng lúc địch bay vào và chỉ được phép bắn khi pháo của cụm Thành Công ở khu vực phà Quý Cao lên tiếng. Lấy tiếng pháo Quý Cao làm hiệu lệnh, pháo ngừng bắn cũng ngừng bắn lên trời. Dân quân khi bắn thì không cần ngắm nghía chi hết, cứ việc chĩa tất cả súng lên trời bắn liên tục, dựng màn đạn quây bọn máy bay bay rất thấp ấy trong một lưới lửa rất rộng (sau này chiến thuật bắn hỗ trợ ấy đã được nhân rộng ra khắp Hải Phòng và đặc biệt hiệu quả, nhất là từ khi có nhiều cụm súng liên thanh bắn theo hướng đạn cao xạ hoặc bắn đón về hướng định trước, che cho các trận địa pháo đề phòng địch nghi binh rồi bổ nhào đánh lén từ các hướng khác).

Về cơ bản thì trận đánh diễn ra gần như bài báo của ta đã kể mà tôi đã tìm về trong post trước. Nên nhớ rằng cho đến lúc đó, bọn Mỹ mới chỉ thừa nhận rơi có hơn 200 chiếc trên bầu trời miền Bắc, suốt từ đầu năm 1965. Cái ngày hôm đó, riêng tại khu vực ấy của Hải Phòng, địch thừa nhận mất 4 máy bay của CVW-16 và 1 chiếc của Thủy quân lục chiến (Marine Corp.).

Phía ta hầu như không có thương vong. Cơ mà đánh xong, cha con rùng rùng kéo pháo chạy tuốt về Kiến An bố trí chờ địch đến đánh báo thù. Song địch không thấy đến đánh vào sư đoàn. Địch choáng váng đến cả tuần sau không thấy vào đánh và đầu tháng 12 thì tàu Oriskany rút khỏi vịnh Bắc Bộ (cả tàu chỉ có chừng 70 máy bay A4 mà bị hạ trong có mỗi một trận đã 4 chiếc, mất 2 thiếu tá phi đội trưởng - Bowling và Taylor - thì quá đau, chịu sao thấu). Có lẽ bọn Mỹ không làm sao hiểu nổi ở đâu lại mọc ra một trận địa kinh hãi đến vậy chọc thẳng vào phá nát đội hình của chúng ngay từ lúc vừa mới bay vượt qua bờ biển chừng 1-2 phút (từ bờ biển vào đến chỗ bị đánh chưa đến 20 km).

Sau này, khi tôi đã là học viên sĩ quan, khi truyền dạy cho tôi về nghệ thuật QS, cách tổ chức đánh phục kích, cha tôi đã kể lại cho tôi mọi chuyện về trận đánh này, như một thí dụ điển hình minh họa cho bí quyết: "Khi địch đã hoạt động thành quy luật thì dù lực lượng ta yếu hơn cũng có thể đánh thắng được".


Chú thích:

* Yankee Station: Tên lóng điểm Y trong bản đồ tác chiến Mỹ, là điểm tập kết tiến công (nên mới gọi lóng là Yankee), điểm mà các tàu sân bay Mỹ tiến từ ngoài vào dừng tại cửa Vịnh Bắc Bộ cho máy bay xuất kích - vị trí Yankee Station hồi đó là ngang vĩ độ của Huế, cao hơn lên một chút.

** F-105D: máy bay cường kích, Mỹ gọi là Thần Sấm. Bọn trẻ con chúng tôi nào có biết gì, chỉ cứ gọi tất bọn máy bay ném bom Mỹ là F-105D chứ đâu có biết máy bay ném bom của US Navy khi đó chủ yếu là A4 và AD-6.

*** Sư đoàn bộ binh 350: Bắt đầu chiến tranh phá hoại, lữ đoàn 350 bảo vệ Hà Nội được lệnh tiến xuống Hải Phòng, kết hợp với a) Trung đoàn 50 bảo vệ Đồ Sơn (đoàn Quyết Thắng), b) Trung đoàn 42 huấn luyện quân trên Yên Tử (sau này E42 do Trung tá Hoàng Minh chỉ huy vào Nam chiến đấu thì thay bằng trung đoàn 5), c) Thành đội Hải phòng, để lập thành sư đoàn bộ binh 350 bảo vệ Hải Phòng, có nhiệm vụ (sau này tìm thấy mệnh lệnh tác chiến của Bộ tổng tham mưu trong đống giấy tờ cha tôi để lại sau khi Người qua đời năm 1987 tôi mới biết rõ): Tử thủ Hải Phòng, giữ vững đường 5 chờ viện binh từ Hà Nội xuống trong tình huống địch manh động dùng bộ binh tiến đánh Hải Phòng, giữ trục đường 10 để cơ động lực lượng ứng cứu Quảng Ninh. Sư đoàn 350 thuộc QK3 song khi đó tổ chức như một bộ tư lệnh trực thuộc Bộ tổng tham mưu. Cha tôi là Thành đội trưởng HP nên dù khi đó mới thiếu tá đã được bổ nhiệm tham mưu phó, sau đó là tham mưu trưởng sư đoàn. Sau trận 17-11-1965, cha tôi được phong trung tá và chỉ 3 năm sau, thì lên thượng tá phó tư lệnh Bộ tư lệnh 350.

**** F-363: Sư đoàn phòng không bảo vệ Hải Phòng.

***** Đại tá Đặng Tính: Chính ủy kiêm tư lệnh quân chủng Phòng không-Không quân, sau này vào Binh đoàn 559 làm chính ủy (đại tá Đồng Sỹ Nguyên là tư lệnh 559). Sau tết 1973, trong khi hộ tống Sihanouk về Campuchia, đại tá Đặng Tính bị trúng mìn trên đường Trường Sơn hy sinh cùng một số sĩ quan khác. Sau giải phóng 1975, đại tá Đồng Sỹ Nguyên được phong vượt cấp lên trung tướng. Tôi học cùng lớp ĐH, cùng tiểu đội với cả con gái bác Đặng Tính lẫn con trai tướng Đồng Sỹ Nguyên. Mộ của Đại tá Đặng Tính bây giờ nằm ở Nghĩa trang Trường sơn, ngay bên trái khu đài tưởng niệm, mấy năm trước vào thăm, tôi có đến thắp hương cho ông.

****** Khu vực 300 ngày: Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết. Theo đó, từ tháng 10-1954, quân Pháp rút khỏi Hà Nội tập kết xuống Hải Phòng để rút vào Nam. Hải Phòng thành khu đệm chuyển quân do Pháp quản lý trong 300 ngày trước khi bàn giao lại cho chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa. Ngày 15-5-1955, Hải Phòng mới chính thức được giải phóng. Cha tôi lúc đó đang là tham mưu phó quân khu Tả ngạn được bổ nhiệm làm thành đội trưởng Hải Phòng và chỉ huy bộ đội về tiếp quản thành phố. Do đây là nơi tập kết lực lượng địch vào Nam nên những ngày ấy Hải Phòng tập trung đủ loại người cố bám vào quân Pháp để mưu lợi hoặc trốn tránh sự trừng phạt của nhân dân và chính quyền cách mạng, từ trong số ấy, cơ quan tình báo Pháp đã tuyển mộ, huấn luyện và cài lại nhiều lưới gián điệp. Hàng chục năm sau, khi xây nhà, làm đường xá... ở Hải Phòng vẫn còn phát hiện thấy nhiều hầm chôn giấu vũ khí, điện đài. Lúc làm lại đường Lạch Tray, người ta đã phát hiện ra một kho chất nổ ngay gần vệ đường, chỉ là thuốc nổ đã để quá lâu, đưa ra ngoài sáng thì bốc cháy. Hay dạo mới xây khu nhà tập thể của quân khu 3 tại bãi tha ma hoang ở phố Chùa Hàng mà sau này nhà tôi chuyển về đó ở từ năm 1977 (chênh chếch nhà ngày trước của bác TBHP trên 4R này), khi đào móng người ta còn phát hiện thấy mấy ngôi mộ giả có chứa vũ khí và điện đài. Người ta dừng đào bới lại, thông báo yêu cầu chuyển mồ mả xem có ai đến nhận không song chắc kẻ nào quản lý kho vũ khí ấy hoặc đã bị bắt hoặc đã nằm yên, thôi không hoạt động nữa và chỉ có điên mới ra đi nhận thôi.

Thay đổi nội dung bởi: nqbinhdi, 22-01-2011 thời gian gửi bài 22:06
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 13 thành viên gửi lời cảm ơn nqbinhdi cho bài viết trên:
Anh Thư (22-01-2011), Cá Măng (22-01-2011), chaika (23-01-2011), hongducanh (22-01-2011), htienkenzo (22-01-2011), hungmgmi (22-01-2011), Huonghongvang (22-01-2011), LyMisaD88 (22-01-2011), minminixi (22-01-2011), Nina (22-01-2011), sad angel (25-01-2011), TBHP (26-01-2011), thaond_vmc (22-01-2011)