Trích:
Saomai viết
...
Những tác phẩm âm nhạc soạn cho hợp xướng có những đặc điểm riêng. Cũng có những ca khúc được biên soạn lại để biểu diễn bằng một dàn hợp xướng. Có những bản đại hợp xướng được sáng tác hết sức công phu, phải mất nhiều thời gian dàn dựng để biểu diễn với một quy mô lớn.
Theo đó, SM nghĩ nhạc sáng tác để biểu diễn HỢP XƯỚNG có thể coi là một thể loại. Sự hiểu biết của SM cũng chỉ sơ khai và mang chất cảm tính như vậy thôi...
|
Trích:
htienkenzo viết
Đúng thế, bác ạ!
Nhưng tôi lại cho rằng, hợp xướng chỉ là 1 hình thức(phương tiện?) để chuyển tải 1 thể loại âm nhạc đến người nghe-người thưởng thức.
...
|
Với âm nhạc Cổ điển nói riêng, âm nhạc nói chung, tôi là "người ngoại đạo". Nhưng tôi cũng cố gắng tìm tài liệu để mong cho mình được sáng tỏ hơn, sử dụng đúng hơn các từ, ngữ, thuật ngữ. Xin chia sẻ với bác!
Một số thể loại trong âm nhạc cổ điển.
Bagatelle
Bagatelle là một khúc nhạc ngắn, điển hình là cho piano và thường có tính nhẹ nhàng, êm dịu. Cái tên bagatelle có nghĩa đen là "vặt vãnh", như một sự ám chỉ đến tính vô tư của khúc nhạc.
Bagatelle được biết đến sớm nhất với tên đó là do François Couperin(1668 – 1733) sáng tác. Ông là nhà soạn nhạc đáng kính người Pháp thời kỳ Baroque, đồng thời là nghệ sỹ chơi organ và harpsichord. FrançoisCouperin được biết đến như “Couperin vĩ đại” để phân biệt ông với cácthành viên khác của gia đình Couperin tài năng về âm nhạc vì nghệ thuật diễn tấu bậc thầy của ông trên đàn organ và harpsichord. Tác phẩm choharpsichord thứ mười của ông có một khúc rondeau được lấy tiêu đề là Les bagatelles (Những khúc bagatelle).
...
Ballade
Trước hết chúng ta cần phải phân biệt rõ hai thuật ngữ Ballad (phát âm làBAL-led, trọng âm rơi vào âm tiết thứ nhất) và Ballade (phát âm là Bah-LAH-tah, trọng âm rơi vào âm tiết thứ hai). Ballad là một bài ca có cấutrúc tự nhiên đơn giản, thường ở hình thức kể chuyện hay diễn tả. Một ballad thường có một vài đoạn có cấu trúc tương tự và có thể có một đoạn điệp hoặc không. Nói cách khác, ballad là một câu chuyện, thường là một bài tường thuật hoặc bài thơ, được ngâm hoặc hát lên. Bất cứ hình thứcchuyện nào cũng có thể được kể như là một ballad, chẳng hạn như những miêu tả mang tính lịch sử hay chuyện thần tiên theo hình thức đoạn. Nóthường rút gọn lại, luân phiên giữa các dòng theo nhịp 3 và 4 (nhịp ballad) và các vần lặp lại đơn giản, thường kèm theo một đoạn điệp. Nếu ballad dựa trên đề tài chính trị hay tôn giáo thì có thể là một bài tụng ca (hymn).
...
Barcarolle
Barcarolle (thuật ngữ bắt nguồn từ tiếng Pháp, tiếng Ý là barcarola,barcarole) là một bài hát dân gian mà những người chèo thuyền đáy bằngở Venice vẫn hát hoặc một tác phẩm âm nhạc được soạn theo phong cáchnày. Trong âm nhạc cổ điển, hai barcarolle nổi tiếng nhất là barcarole"Belle nuit, ô nuit d’amour" trích trong opera Les contes de Hoffmann(Những câu chuyện của Hoffmann) của Jacques Offenbach và barcarolleOpus. 60 viết cho piano solo giọng Pha thăng trưởng của Frédéric Chopin.
...
Cantata
Cantata là một thể loại thanh nhạc cổ điển với đặc điểm trang trọng hoặccó tính anh hùng, tính trữ tình; gồm một số tiết mục hoàn thiện
viết cho hợp xướng, độc xướng và dàn nhạc giao hưởng. Thể loại cantata có sựgần gũi với thể loại oratorio. Tuy nhiên giữa hai thể loại này cũng có những điểm khác biệt, đó là khuôn khổ của cantata không lớn lắm và không diễn tả một câu chuyện kịch, mà chỉ có một số tiết mục dựa trên một đề tài.
Cấu trúc của cantata khá phong phú, có thể gồm nhiều chương hoặc chỉcó một chương, có thể
viết cho hợp xướng và dàn nhạc, mà
cũng có thể cho độc xướng và hợp xướng lẫn độc xướng. Lời ca trong cantata có thể không có sự phát triển mang tính chủ đề nhất định nhưng cũng có bản được phát triển với sự phối hợp bằng chủ đề rõ ràng.
...
Concerto
1/
Giới thiệu chung:
Concerto là một thể loại âm nhạc với đặc trưng gồm có 3 chương, cho 1 hay nhiều loại nhạc cụ độc tấu với dàn nhạc. Cái tên “Concerto” lần đầutiên được sử dụng ở Ý vào cuối thế kỷ 16 nhưng mãi đến khoảng năm1600 vào đầu thời kì Baroque ở Ý, nó mới trở nên phổ biến. Đầu tiên Concerto và Concertato là sự pha trộn của các loại nhạc cụ giàu màu sắc hoặc các giọng hát hoặc cả hai được áp dung rộng rãi ở những bản nhạc mang màu sắc thần thánh hoặc trần tục, đuợc gọi là một nhóm các nhạc cụ hoặc ca sỹ kết hợp với nhau hoặc cả hai. Một nhóm có thể được xem như một thể thống nhất nhưng pha trộn toàn bộ những âm thanh tương phản nhau được đặt ở vị trí này hoặc ở vị trí khác. “Phong cách Concerto”này được phát triển bởi nhà soạn nhạc người Ý Claudio Monteverdi(1567 - 1643), đặc biệt trong tập thứ 5 của 8 tập nhạc Madrigal (1605 -1638). Chịu ảnh hưởng một phần từ Monteverdi, nhà soạn nhạc ngườ iĐức Heirich Schülz cũng áp dụng phong cách mới này cho các tác phẩm nhạc tôn giáo Đức. Ý nghĩa của Concerto được tiếp tục sử dụng vào thếkỷ 18 khi nhiều bản cantata tôn giáo của Johann Sebastian Bach cũng được đề là Concerto.
...
Etude
Etude hay Study (tiếng Pháp: étude ; tiếng Đức: etüde, studie ; tiếng Ý:studio) là một đoạn khí nhạc, thường có một độ khó nào đó và thường hay dành cho một nhạc cụ dây có bàn phím, với mục đích chính là để khai thác và hoàn thiện một mặt nào đó của kỹ thuật biểu diễn nhưng cũng vẫn có được sự hứng thú về âm nhạc. Mặc dù etude một thời được coi như một bài tập (Pháp: exercice; Đức: Übung; Ý: essercizio), thuật ngữ về sau này thường chỉ một ô nhịp hay đoạn ngắn được lặp lại một cách tự do, có thể được thay đổi trên các thang âm khác hoặc trên các giọng khác nhau. Sự khác biệt được minh họa bằng Studien op.3 (1832)của Schumann, tác phẩm được mở đầu bằng Übungen ngắn, dựa trên những độ khó về kỹ thuật có trong chính các etude.
...
Nocturne
Nocturne: Dạ khúc: 1. (tiếng Ý notturno): thế kỉ 18, một tác phẩm dànhcho một vài nhạc cụ thường gồm nhiều chương. 2. một tiểu phẩm trữ tình nhỏ thường dành cho piano độc tấu do nhà soạn nhạc người Ireland JohnField sáng tạo ra vào đầu thế kỉ 19 và được Frederic Chopin kế thừa và đưa lên đỉnh cao.
...
Prelude
1/
Giới thiệu chung:
Prelude (khúc dạo đầu) là một khúc nhạc ngắn, thường không có hìnhthức nội tại đặc biệt, có thể đóng vai trò là một sự giới thiệu cho những chương nhạc tiếp theo của một tác phẩm mà thường dài và phức tạp hơn.Nhiều prelude có một ostinato (một motif hay một câu nhạc được lặp đi lặp lại nhiều lần với cùng một giọng) tiếp diễn suốt từ đầu đến cuối,thường là ở nhiều nhịp và giai điệu khác nhau. Chúng cũng có tính ngẫu hứng ở một mức độ nào đó trong phong cách. Prelude có thể liên quan đến overture, đặc biệt là những prelude trong một vở opera hay một oratorio.
...
Romance
Thuật ngữ romance (tiếng Tây Ban Nha : romance/romanza, tiếng Ý :romanza, tiếng Đức Romanze, tiếng Pháp : romance, tiếng Nga : романс)có một lịch sử dài hàng thế kỉ. Bắt đầu là những ballad mang tính kểchuyện ở Tây Ban Nha, đến thế kỉ 18 nó đã được áp dụng đối với những tác phẩm trữ tình không chỉ viết cho giọng hát mà còn cho nhạc cụ. Romance, với hàm ý “lãng mạn, thơ mộng” (theo từ điển Grove Music),có thể là một tác phẩm viết cho giọng hát và phần đệm khí nhạc, đôi khiáp dụng cho những tác phẩm khí nhạc, thậm chí cho một chương của một tác phẩm lớn (ví dụ như chương hai violin concerto của Ludvig van Beethoven, chương hai piano concerto No. 20 giọng Rê thứ (K.466) củaWolgang Amadeus Mozart...)
...
Serenade
Trong âm nhạc, một serenade (hay đôi khi là serenata) với ý nghĩa phổ biến nhất của nó là một tác phẩm âm nhạc hoặc là một buổi biểu diễn âm nhạc để thể hiện sự kính trọng, tôn vinh ai đó. Có ba loại serenade trong lịch sử
âm nhạc.
...
Sonata
I.
Giới thiệu:
Sonata (sonare trong tiếng Ý với nghĩa đen là “phát ra âm thanh”) là mộtthể loại tác phẩm âm nhạc cổ điển viết cho một hay nhiều nhạc cụ. Thuật ngữ sonata cũng chỉ hình thức âm nhạc đặc trưng của chương nhạc thứ nhất trong các sonata thế kỉ 18 và các thể loại có liên quan. Từ giữa thế kỉ 18, thuật ngữ sonata thường được sử dụng cho các tác phẩm có khuôn mẫu ba hoặc bốn chương viết cho một hoặc hai nhạc cụ, như trong pianosonata (cho piano độc tấu) hoặc violin sonata (cho violin với bè đệm đàn phím). Có các thuật ngữ khác ngoài sonata được sử dụng cho các tác phẩm bố trí theo khuôn mẫu sonata nhưng được soạn cho những kiểu kết hợp nhạc cụ khác ; chẳng hạn như sonata cho dàn nhạc được gọi là giao hưởng, sonata cho nhạc cụ độc tấu cùng dàn nhạc được gọi là concerto vàsonata cho tứ tấu đàn dây được gọi là tứ tấu đàn dây.
...
Suite (Tổ khúc)
Suite (tổ khúc) là một bộ các tác phẩm khí nhạc được sắp xếp theo thứ tự nhằm để biểu diễn riêng một mạch. Trong thời kỳ Baroque, tổ khúc là một thể loại khí nhạc bao gồm một số chương có cùng điệu thức, một vài hay tất cả dựa trên các hình thức và phong cách vũ khúc (các thuật ngữ khác dành cho nhóm các vũ khúc thời Baroque gồm có Partita, Overture,Ordre và Sonata da camera).
Việc ghép đôi các vũ khúc ít nhất cũng đã có từ thế kỷ 14 nhưng các
nhóm tác phẩm được gọi là tổ khúc được biết đến sớm nhất là suyttes de
bransles của Estienne du Tertre (1557). Tuy nhiên chúng chỉ tạo thànhchất liệu thô cho một chuỗi các vũ khúc hơn là một chuỗi thực sự đượcchơi trên thực tế. Phần lớn các nhóm vũ khúc từ những năm 1840 tới cuối thế kỷ đó đều là những cặp tác phẩm, một điệu pavan hay passamezzo đi cùng một điệu galliard hay saltarello. Sự thôi thúc ghép nhóm kiểu tổ khúc có vẻ như bắt nguồn từ nước Anh tại thời điểm bước ngoặt thế kỷ,với William Brade và Giovanni Coprario, nhưng xuất bản phẩm đầu tiên của nhóm các tác phẩm kiểu tổ khúc với tư cách là các tác phẩm được ghép lại một cách đồng bộ là Newe Padouan, Intrada, Däntz undGalliarda (1611) của Peuerl mà bốn vũ khúc trên tiêu đề trở đi trở lại trong mười ‘suite’ được thống nhất bằng điệu thức và chất liệu chủ đề.Banchetto musicale (1617) của Schein bao gồm 20 chuỗi paduana,gagliarda, courente, allmande và tripla được thống nhất một cách tương tự.
...
Variation (Biến tấu)
Variation (Biến tấu) là một hình thức trong đó các cách trình bày một chủ đề được biến đổi hoặc đưa ra theo các cách sắp xếp có sự thay đổi.Trong thế kỷ 18 và 19 chủ đề thường được trình bày trước, tiếp theo làmột số biến tấu, do đó mà có cách diễn đạt 'theme and variations' (chủ đề và các biến tấu).
Trong thế kỷ 16, các vũ khúc được sử dụng nhiều làm cơ cấu cho các biến tấu. Nghệ thuật này đạt tới một thời kỳ phát triển cao ở Tây Ban Nha thế kỷ 16 trong các tác phẩm cho vihuela và đàn phím của Cabezón và những người khác. Những người chơi đàn virginals (một nhạc cụ có bàn phím, hình vuông, không có chân) ở nước Anh cuối thế kỷ, đáng chú ý làBull, Farnaby, Gibbons và Byrd, cũng nổi trội và ảnh hưởng đến các nhà soạn nhạc lục địa, đặc biệt là Sweelinck và Scheidt.
...
http://www.scribd.com/doc/30338282/M...%91i%E1%BB%83n
Và một thể loại rất quan trọng trong âm nhạc Cổ điển là: Giao hưởng.
Giao hưởng( Symphony)
Đó là một khúc nhạc khá lớn gồm 3 phần khác nhau về tính cách, mỗi phần phản ảnh những mặt cụ thể của nội dung vở nhạc kịch.
-Phần 1: Nhanh, súc tích- thể hiện những hình tượng long trọng có tính
chiến đấu.
-Phần 2: Chậm- gắn liền với chất trữ tình: ở đây nghe thấy âm điệu cảm động của những Aria trữ tình
Trong phần 3, ta nhận rõ sinh hoạt diễn ra trong hoạt động nhảy múa nhanh nhẹn và nhẹ nhàng.
Có thể bắt đầu bất kỳ một vở nhạc kịch nào bằng khúc mở đầu như thế: vì, như một quy tắc, chúng ta đều thấy trạng huống trong mỗi phần của sơ đồ: hùng dũng-trữ tình-cảnh sinh hoạt. Mặt khác bị ràng buộc với những chi tiết của chủ đề, âm nhạc trong khúc mở đầu vang lên với mức độ tương đối khái quát. Do giao hưởng trong nhạc kịch có gia trị nghệ thuật độc lập, người ta bắt đầu đem diễn tấu ngoài nhà hát nhạc kịch. Chẳng bao lâu sau đến một bước mới tiếp theo- các nhà soạn nhạc sáng tác giao hưởng để biểu diễn.
...
(Trích "
Dành cho những người nghe nhạc Giao hưởng"- Nhà Xuất bản Âm nhạc Leningrad 1967. Người dịch:
Nguyễn Cửu Vỹ- Hiệu đính:
Ca Lê Thuần.)
Do đó, theo tôi nghĩ, Giọng ca, Độc xướng, Hợp xướng, Nhạc cụ... chỉ là một/những phương tiện-hình thức để chuyển tải, trình bày những nội dung có tính chủ đề trong âm nhạc Cổ điển.
Thiển nghĩ cá nhân:
Sau này, thể loại Giao hưởng phát triển và thông thường có cấu trúc 4 chương. Chỉ một vài trường hợp đặc biệt (hoàn cảnh, ý tưởng tác giả...) thì mới có cấu trúc khác.
-Bản Giao hưởng số 8- "Unfinished"- "Dang dở" của Frank Schubert: có 2 chương.
-Bản Giao hưởng số 6- "Pastoral"- "Đồng quê" của Ludwig van Beethoven: có 5 chương.
Riêng bản Giao hưởng số 9- "Ode To Joy" của Beethoven, ở chương cuối- chương 4 lại có sự sáng tạo và chuyển biến khi đưa khúc Coral do Dàn Hợp xướng trình bày. Giới nghiên cứu âm nhạc nhận định đây là đỉnh cao trong quá trình phát triển của thể loại Giao hưởng.
Theo tôi được biết (trong thời gian sửa Đồ án tốt nghiệp từ người thầy đã từng học và làm việc ở CHDC Đức), với những bản nhạc hay bản Giao hưởng có tính đồ sộ, hoành tráng như bản Giao hưởng số 9 Beethoven, người ta đã thiết kế hệ thống trần của Nhà hát Giao hưởng rất kỹ lưỡng và tuân thủ các kết quả của tính toán và thực nghiệm. Hệ thống trần có thể được nâng lên hay hạ xuống, có thể xoay các tấm trần để làm sao đem đến cho người nghe những âm trầm nhỏ nhất, có độ vang (echo) đúng tiêu chuẩn tùy theo từng đoạn, phân đoạn, chủ đề, chương... ở từng vị trí chỗ ngồi trong khán phòng. Nhất là những vị trí hạn chế ở các dãy đầu, góc cuối dưới ban công hay bên trên những Cac lô.