ĐỌC SƯƠNG TRẮNG BẠCH DƯƠNG
nguồn blog Đặng Hà My
Nếu làm thơ là một cuộc lao động miệt mài cần mẫn không ngưng nghỉ của cảm xúc, một sự dâng hiến hết mình cho ý tưởng và cho con chữ, thì dịch thơ còn khó hơn rất nhiều.
“Sương Trắng Bạch Dương„ là một tập thơ dịch từ 68 bài thơ tình chọn lọc của 8 nhà thơ kinh điển Nga, do nhà thơ Nguyệt Vũ soạn và biên dịch. Dịch giả đã rất kỳ công qua bút pháp dịch thuật công phu, và trách nhiệm từ trang bìa cho đến nội dung cuốn sách.
Lần mới đây về Việt Nam, tôi được gặp chị vài lần, cuốn sách vừa xuất bản tháng 11.2010, tôi được đón nhận món quà tinh thần qúi báu từ tay chị. Một người phụ nữ thông minh, quyến rũ, với đôi mắt nâu to tròn như có nắng, có thơ. Và còn ngạc nhiên hơn nữa khi biết chị vừa làm Giám đốc hành chính của B.Braun VN, khối lượng công việc ngập đầu, mà vẫn sắp xếp được thời gian sáng tác và dịch thơ.
Người ta nói đùa "dịch" là "diệt". Hiểu nôm na là công việc dịch thơ là diệt thơ. Chỉ cần chuyển tải được ý thơ 50 phần trăm đã là thành công rồi. Người dịch thơ không những có một tâm hồn yêu thơ đến vô hạn, mà còn phải có một trình độ thẩm thấu thơ rất cao. Đặc biệt là phải có một trình độ ngôn ngữ đẳng cấp của hai cả hai thứ tiếng mới có thể có hy vọng truyền tải đến cho người đọc thông điệp thi ca của bài thơ, của tác giả được. Nhất là khi chuyển tải lối dùng kích ngữ sang tiếng Việt, mỗi ngôn ngữ có một cách biểu đạt khác nhau, làm sao có thể vừa sát, vừa thoát, để người đọc cảm nhận gần gũi.
Tôi đã từng đọc những tác phẩm dịch, nhất là những bài thơ của các thi hào nổi tiếng trên thế giới qua các dịch giả như Thái Bá Tân, Đặng Thúy Toàn, Đoàn Tử Huyến, Phạm Xuân Nguyên...Mặc dù, Nguyệt VŨ cũng đã dịch khá nhiều thơ và cũng có nhiều thơ dịch và thơ sáng tác được đăng các báo lớn và Tạp chí Văn học nước ngoài. Nhưng khi cầm tập thơ Sương trắng bạch dương của chị, tôi không tránh khỏi hồ nghi.
Thơ Pushkin, âm vang quen thuộc qua lời dịch của Thuý Toàn, trong tâm trí bao người:
" cầu em được người tình như tôi đã yêu em"
Và khi đọc đến đoạn thơ khác của Pushkin do Nguyệt VŨ dịch thì tôi kinh ngạc vô cùng:
“ Suối tình chảy mãi đầy em
Mắt em lấp lánh trong đêm tối òa
Ánh cười, âm vọng thiết tha:
Anh…yêu…ứ hự…
này là…của anh…”
Phồn thực chưa? Hồn “ta„ đấy! Tôi chợt nghĩ đến điệu ca trù, bài chầu văn…với những hồng hồng tuyết tuyết; với
"...thuyền quên ứ hự anh hùng nhớ chăng?"
Hoặc, rất ít khi người đọc được thưởng thức thơ dịch bằng thể thơ lục bát:
" Nơi đây mình đã chia ly
Nhìn nhau ngoảnh lại, dại gì đau thêm.
“Và rồi lần nữa anh ơi
Hát lên câu hát- giận rồi, lại thương...„
Hình như có điệu hò ví rất quen thuộc trong tâm khảm của chúng ta. Chị đã tài tình chuyển tải vần điệu cho trở nên gần gũi với văn hóa Việt.
Tôi nghĩ có lẽ đây là cuộc lao động thơ thật sự của một tâm hồn đam mê thơ thật sự. Vậy là tôi chìm đắm vào Sương trắng bạch dương, chìm đắm vào vào thiên nhiên Nga ăp ắp trữ tình, và chìm đắm vào thế giới thi ca huyền diệu.Tôi bị cuốn hút bởi lời tựa thủ thỉ của chị: “Đất nước Nga trong tôi là tiếng bạch dương reo, là mùa đông tuyết trắng, là mùa thu vàng rực rỡ, là mùa hè hoa nở…Con người Nga trong tôi là những con người nồng hậu, ấm áp và mở rộng trái tim.„
Chợt ngỡ ngàng, khi chính tôi đang sống ở một đất nước cũng tươi đẹp không kém, vậy mà, tôi chưa bao giờ nói được một lời yêu, phải chăng, nơi mình đang hiện hữu đây chỉ là “nơi đất ở„. Chỉ khi xa rồi, có lẽ, nó mới trở thành hoài niệm đau đáu và nên thơ chăng?
Nguyệt Vũ tri âm những tháng năm tuổi trẻ của mình học tập bên nước Nga. Cùng với những thế hệ đi trước, chúng ta đã có gần nửa thế kỷ giao lưu với văn hoá Nga, văn hoá Nga đã bắt rễ rất sâu vào văn hoá Việt (ít nhất là những người sinh ra và lớn ở miền Bắc).Văn hoá xô viết, đó là diện mạo cuả thế kỷ XX. Nước Nga đã sản sinh cho thế giới những thiên tài văn hóa - Pushkin, Tolstoy, Tchaikovsky…
Những tác phẩm của sông Đông êm đềm, Bác sĩ Givagô, Chiến tranh và hoà bình, Thép đã tôi thế đấy…Những giai điệu âm hưởng tiếng đàn Balalaika, những bức họa Mùa thu nổi tiếng của Levitan. Những rừng sồi, cây bạch dương, đàn sếu…Thơ Nga mở ra một thế giới lung linh đầy mầu sắc, tâm hồn Nga phơi phới, trong sáng đầy kiêu hãnh, vẫn thăm thẳm nỗi niềm u uẩn diệu vợi. Cho dù, đất nước có biến đổi theo chiều hướng nào. Thì phong cách Nga và văn hoá Nga vẫn hiện hữu không thể phủ nhận.
Qua lời dịch của Nguyệt VŨ, thơ A.A. Fet, trẻ trung, run rẩy:
“ Trái tim đập rụt rè bẽn lẽn
Hy vọng trào dâng, sợ hãi âu lo,- „
Lung linh huyền ảo như trong vườn cổ tích:
“ Kim cương lác rác dưới ánh trăng,
Lung linh ngời tỏa giữa bầu trời,
Long lanh nhè nhẹ trên cây lá,
Lấp lánh hào quang trên tuyết rơi.”
Olga Berggoltz, người ta ví bà là cây ngải đắng của thi ca xô viết. Lối chuyển thể rất sát:
“ Vạt cỏ của em, ngải đắng,
Nở bừng sắc hoa bên đời.”
Với bao đau đớn trăn trở, những dấu hỏi từ vô thức:
“ Anh cầm lấy chiếc khăn hoa,
Xé tan đường viền chẳng tiếc
Cần chi chiếc khăn đã rách
Anh làm gì với những đường viền?..”
Đi qua sự bất toàn trong tình yêu…như mặt hồ vờ lặng sóng, chỉ còn lại những đợt sóng ngầm miên man, và tôi thích từ “đắng đót”:
“ Ngừng bặt từ lâu những trận mưa rào,
thấm xuống cánh đồng đêm bình lặng...
Em hạnh phúc hơn vì ánh nhìn mê đắm,
Ít khi ghen và ghen đắng đót hơn.”
S.Yesenin, mắt xanh như hồ thu, chàng thi sĩ đa tình đẹp trai nhất thế giới -“đặc phái viên cuối cùng của làng quê Nga”. Quả thực, Yesenin đã sống mãi trong lòng nhân dân Nga bởi một hồn thơ thành thật, yêu quê hương đắm say, lắng đọng chất trữ tình đượm buồn thanh khiết, sự cao thượng và chân thành trong tình yêu.
Lời thơ ngân lên rì rào, ta gặp trong nhiều điệu hát dân ca Nga:
“ Anh nhớ đêm thanh vắng mùa thu,
Bạch dương reo trong lá vi vu”
Sự trải lòng cao thượng của thi sĩ với người yêu:
“ Anh buồn rầu khi ngắm nhìn em
Thật đớn đau, thật là thương xót”
“Ôi sao qua con đường quá ngắn
Mà lỗi lầm nhiều thế em ơi”
Đau đáu với tình yêu dành cho mẹ trong xa cách, an ủi mẹ:
“ Họ viết cho con, rằng mẹ giấu lo âu,
Quá rầu rĩ vì con mà phiền muộn,
Rằng mẹ thường ra đường đi thơ thẩn
Mặc áo choàng cổ lỗ nát tả tơi”
" Con đâu phải là con sâu rượu
Mà, không gặp mẹ, khi chết mẹ ơi”.
Pushkin, một mặt trời thi ca, một hiện tượng duy nhất của hồn Nga, sinh ra để yêu và chết cũng vì yêu, ông hoàng thơ tình luôn lãng mạn, say đắm và bốc cháy qua những vần thơ:
“Lưỡi cứng đờ và trí khôn biến mất
Trên đầu anh chỉ có một mắt thôi
Ngắm em bằng: mắt duy nhất của tôi”
Tình trải đầy ăm ắp với những ẩn dụ phồn thực, Nguyệt Vũ đã dùng thể lục bát:
“ Suối tình chảy mãi đầy em
Mắt em lấp lánh trong đêm tối òa”
Yuliya Drunina- Tài hoa nhưng cũng gặp bi kịch cuối đời. Thơ bà ngắn gọn, xúc tích nhưng cũng đầy mạnh mẽ cá tính, bà mô tả rõ ràng cả những hiện thực xã hội:
“ Tôi yêu dữ dội mùa đông-
Bão tuyết cuồng say điên đảo”
“ Có phải đây chăng
Cội nguồn tính cách người Nga?-
Và hào phóng,
và vô tư,
và thói hư tật xấu…”
Nhẹ nhàng sâu thẳm với ý thơ, lời dịch dung dị, ước mơ gần gũi:
“ Cô đơn đáng sợ có đôi,
Một mình đơn lẻ ơn trời nhẹ hơn…”
“ Chỉ muốn làm người đàn bà-
ngỡ ngàng nhút nhát-
Ngả đầu vào vai anh”
Constantin Dmitrievich Balmont. Ông đã kết hợp các ý tưởng mầu sắc và âm thanh:
“Yêu nhau đi cây bạch dương khẽ hát”
“Yêu nhau đi!- tử đinh hương rắc phấn
Yêu, yêu đi!-hoa hồng ngát tỏa hương”
“ Như bông lúa mì rạp trong bão táp
Anh nghiêng mình trước mặt em yêu”
“ Dẫu có biến thành người điên loạn
Anh muốn có em!”
Eduard Asadov trải lòng với từng cung bậc:
“ nếu tình yêu đột nhiên lóe cháy
Mà để quen- máu sẽ lạnh thôi mà
Như đồng xu cuối cùng thua canh bạc đêm”
“Nếu như anh bị nạn
Đau đớn đến hôn mê
Anh vẫn đến. Em nghe
Dù bò, lê…vẫn đến!”
Nicolai.M.Rubtsov. Bình dị, ân cần, đầy nhân bản:
" Mẹ sống thế nào mẹ yêu qúi của con
Trong làng mình có gì mới nhỉ?”
“Như tiếng ong. Cùng gió mưa bão táp
Cũng xao xác thế này mùa lá vàng rơi
Tôi yêu bạch dương của người, nước Nga của tôi ơi!”
Gấp cuốn sách lại, thầm cảm ơn và tri âm cùng chị, đã cho tôi có những giờ phút thanh thản yên bình bên những trang thơ Nga.
Tôi mở rèm cửa sổ, ánh nắng chiều nhè nhẹ vương vấn trên vòm cây, lẩm nhẩm hát khẽ “chiều thanh vắng là đây âm thầm gió rì rào…”- tôi đang thả hồn vào giấc mơ đó, đã lâu lắm rồi, tôi mới lại mê mải đến thế...
Đặng Hà My.
10.01.2011