Trích:
micha53 viết
Kính chúc các anh, chị đang công tác tại NM lọc hóa dầu Bình sơn một năm mới bội thu!
|
Vâng xin cảm ơn bác Mì Chả, bác nghiahoa và mọi người đã quan tâm và chúc mừng. Ngày kia 6.1.2011 chúng em sẽ làm Lễ khánh thành NMLD. Mấy ngày qua chúng em phải làm việc chối chết. Lễ Tết chẳng được nghỉ. Hic!
Xin phép được cung cấp thêm cho các bác một số thông tin tổng quát về NMLD. Bài hơi dài.
Một lần nữa chân thành cảm ơn các bác đã quan tâm.
Thông tin chung về dự án:
Dự án xây dựng NMLD Dung Quất là hoạch định chiến lược quan trọng của Đảng và Chính phủ đối với việc hình thành ngành công nghiệp lọc hóa dầu của Việt Nam cũng như chính sách đầu tư phát triển vùng kinh tế trọng điểm miền Trung. Đây là công trình trọng điểm quốc gia, được Chính phủ giao cho Tập đoàn Dầu khí Việt Nam triển khai thực hiện tại Khu kinh tế Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi với số vốn đầu tư trên 3 tỷ USD, có công suất 6,5 triệu tấn/năm, đáp ứng trên 30% nhu cầu sử dụng xăng dầu trong cả nước hiện nay.
Dự án NMLD Dung Quất được Thủ tướng quyết định đầu tư năm 1997. Trong giai đoạn đến giữa năm 2005, việc triển khai dự án gặp nhiều khó khăn và có phần lúng túng, chủ yếu liên quan đến công tác thu xếp vốn, tổ chức hình thức đầu tư do đây là lần đầu tiên chúng ta xây dựng một nhà máy lọc hóa dầu với công nghệ rất hiện đại, có qui mô và vốn đầu tư lớn nhất so với các dự án trọng điểm quốc gia khác tại thời điểm đó.
Giữa năm 2005, Petrovietnam đã trao các Hợp đồng EPC 1+4 & 2+3 là các gói thầu quan trọng nhất của Dự án cho Tổ hợp nhà thầu Technip. Sự kiện này đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng để triển khai dự án.
Trong quá trình thực hiện dự án từ năm 2005 cho đến khi hoàn thành, chủ đầu tư và các nhà thầu tuy đã gặp rất nhiều khó khăn, thử thách liên quan đến các vấn đề kỹ thuật, điều kiện địa chất, thời tiết, giá cả vật tư thiết bị tăng đột biến và nguồn nhân lực, nhưng dưới sự chỉ đạo quyết liệt của Đảng và Chính phủ, các bộ ngành và cơ quan Trung ương, sự phối hợp chặt chẽ của tỉnh Quảng Ngãi, cộng với những nỗ lực vượt bậc của chủ đầu tư cùng các nhà thầu trong nước và quốc tế trong đó có vai trò của nhà thầu chính Tổ hợp Technip, NMLD Dung Quất đã hoàn thành xây dựng và được đưa vào vận hành thành công.
Ngày 29 tháng 5 năm 2010, Hội đồng nghiệm thu nhà nước các công trình xây dựng đã ký văn bản nghiệm thu, cho phép công trình Nhà máy Lọc dầu Dung Quất được chính thức đưa vào hoạt động thương mại. Trước đó, ngày 25 tháng 5 năm 2010, trên cơ sở kết quả vận hành chạy thử, chạy nghiệm thu nhà máy, Chủ đầu tư đã cấp chứng chỉ nghiệm thu sơ bộ cho Tổ hợp nhà thầu Technip và Tổ hợp nhà thầu này tiếp tục thực hiện nghĩa vụ bảo hành nhà máy trong thời gia 02 năm tiếp theo. Ngày 30 tháng 5 năm 2010, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam và Tổ hợp nhà thầu TPC tổ chức Lễ bàn giao NMLD Dung Quất. Ngày 26/11/2010, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa XI đã biểu quyết thông qua Nghị quyết về việc hoàn thành dự án NMLD Dung Quất.
Công tác quyết toán dự án được Tập đoàn dầu khí Việt Nam triển khai với tinh thần hết sức khẩn trương và nhanh gọn, đã cơ bản hoàn thành trong tháng 12/2010 với tổng giá trị quyết toán dự kiến là 43,33 nghìn tỷ VND so với 51,718 nghìn tỷ của tổng mức đầu tư được duyệt, trong đó giá trị đã được phê duyệt quyết toán là 42,82 nghìn tỷ, còn lại 513,8 tỷ của một số hạng mục dở dang (Hỗ trợ các công trình hạ tầng cơ sở và hỗ trợ đền bù cho nhân dân địa phương, Trung tâm lưu trữ, Nâng cấp cảnh quan môi trường, Thành lập hệ thống mốc chuẩn phục vụ công tác đo biến dạng các hạng mục công trình,…) được Phó Thủ tướng Chính phủ, Trưởng Ban chỉ đạo các công trình trọng điểm Nhà nước về dầu khí Hoàng Trung Hải cho phép quyết toán vào đợt 2, ngay sau kết thúc đầu tư.
Giới thiệu công trình:
NMLD Dung quất được xây dựng với tổng diện tích sử dụng trên 800ha trong đó có 337 ha mặt đất và 471 ha mặt biển. Với công suất chế biến 6,5 triệu tấn dầu thô Bạch Hổ/năm, nhà máy có 14 phân xưởng chế biến công nghệ, 10 phân xưởng năng lượng, phụ trợ và 8 hạng mục ngoại vi. Sản phẩm của nhà máy bao gồm khí hóa lỏng LPG, Xăng 92/95, Dầu hỏa, Nhiên liệu phản lực, Diesel ôtô, Dầu nhiên liệu và Polypropylene. Các hạng mục chính của dự án bao gồm:
+
Nhà máy chính bao gồm các phân xưởng công nghệ chế biến dầu và các phân xưởng phụ trợ, hệ thống tiếp nhận dầu thô ngoài biển và tuyến ống dẫn đến khu bể chứa dầu thô, tuyến ống dẫn sản phẩm, khu bể chứa sản phẩm, hệ thống ống dẫn và xuất sản phẩm.
Các hạng mục này do tổ hợp nhà thầu Technip thực hiện thông qua Hợp đồng EPC 1+4 và 2+3. Ngoài tổ hợp nhà thầu chính Technip còn có 47 nhà thầu phụ và 151 nhà thầu phụ thứ cấp.
Trong quá trình thiết kế và chế tạo thiết bị, đã có hơn 1.000 chuyên gia của nhà thầu và hàng trăm cán bộ giám sát thiết kế của chủ đầu tư và nhà thầu tư vấn quản lý dự án (PMC) được huy động làm việc liên tục từ giữa năm 2005 đến cuối năm 2007 tại 4 trung tâm trên thế giới. Tài liệu thiết kế chi tiết và bản vẽ kỹ thuật phục vụ chế tạo, xây lắp được phê duyệt lên đến hàng triệu bản.
Số kỹ sư và công nhân tham gia xây dựng tại hiện trường vào lúc cao điểm lên đến 14.000 - 15.000 người đến từ 30 quốc gia. Các nhà thầu phụ Việt Nam đảm nhận khoảng 75% khối lượng xây lắp. Tổng số giờ công lao động trên công trường đạt trên 65 triệu giờ.
Một khối lượng khổng lồ vật tư, thiết bị được chế tạo vận chuyển vào Việt Nam và lắp đặt trong gói thầu 1+4 và 2+3: khoảng 40 ngàn tấn thiết bị; 23 ngàn tấn vật liệu bồn bể; 40 ngàn tấn đường ống và phụ kiện; 14 ngàn tấn vật tư điện; 3,7 triệu mét cáp điện và cáp điều khiển; 1.700 thiết bị quay; 17.227 mạch điều khiển; 11.032 thiết bị tự động hóa…
+ Đê chắn sóng:
Đây là hạng mục công trình đê chắn sóng lớn nhất Việt Nam, được xây dựng tại vịnh Dung Quất nhằm ngăn sóng, bảo vệ khu Cảng xuất sản phẩm của NMLD. Năm 2004, công tác thi công gói thầu 5A bị đình trệ vì phải mời nhà thầu phụ nước ngoài của Hà Lan vào xử lý nền đất yếu.
Từ tháng 3/2005 đến tháng 10/2005, Nhà thầu Hà Lan đã hoàn thành việc xử lý nền đất yếu bằng cách nạo vét trên 1.125.000 m3 đất yếu ở độ sâu âm 16 mét dưới đáy biển và đổ cát, đá theo yêu cầu thiết kế vào các mặt cắt, đồng thời đầm nén đảm bảo các tiêu chuẩn về kỹ thuật của nền đê
.
Từ tháng 10/2006 đến tháng 2/2008, Nhà thầu Van Oord đã tập trung phương tiện và thiết bị, áp dụng biện pháp thi công tối ưu nhất để thi công, hoàn thành việc đổ 1.568.000 m3 đá thân đê, đúc và lắp đặt 21.472 cấu kiện bê tông phá sóng và hoàn thành công trình Đê chắn sóng.
+ Cảng xuất sản phẩm:
Đây là hạng mục quan trọng bao gồm hệ thống kết cấu cọc và sàn để nâng đỡ hệ thống ống công nghệ, thiết bị điện và tự động hóa của cảng xuất sản phẩm thuộc gói thầu số 3, được bố trí nằm trong khu vực vịnh Dung Quất sát với phía trong của gói thầu 5A - Đê chắn sóng, có diện tích sử dụng khoảng 135 ha mặt đất và mặt biển.
Từ năm 2004 đến năm 2005, tiến độ thi công gói thầu EPC 5B gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc do những phát sinh liên quan đến điều kiện địa chất, thay đổi thiết kế kỹ thuật, giá cả vật tư, phương tiện thi công và giao diện với gói 3. Để giải quyết yêu cầu về chất lượng và tiến độ công trình, chủ đầu tư đã bổ sung thêm một số nhà thầu trong nước và quốc tế, tập trung nhân lực, phương tiện và triển khai các biện pháp thi công hết sức quyết liệt, từ tháng 3/2006 gói thầu đã được bàn giao từng phần để nhà thầu TPC lắp đặt hệ thống ống công nghệ và các thiết bị.
Tổng số cọc được thi công bằng các biện pháp khoan và đóng là trên 2200 cọc; số dầm bê tông dự ứng lực là 168 tấm; số cấu kiện Anode chống ăn mòn là 3.650 cấu kiện; diện tích bề mặt cọc được bảo vệ bằng sơn Alocit là 23.287 m2.
+ Hạng mục nhà hành chính, trạm cứu hỏa, nhà ăn, xưởng bảo trì cơ khí, xưởng bảo trì điện, hệ thống thông tin liên lạc, kho bảo trì, đường giao thông, sân bãi, cây xanh và hệ thống kỹ thuật kết nối với khu nhà máy chính…được đầu tư đồng bộ để phục vụ cho công tác quản lý vận hành và bảo dưỡng hiệu quả.
+ Phân xưởng sản xuất Polypropylene:
Phân xưởng sản xuất Polypropylene gắn liền với Nhà máy lọc dầu do Liên doanh các Nhà thầu do Huyndai Eng.- Hàn quốc và PVC thiết kế và xây dựng. Nhà máy có công suất 150.000 tấn sản phẩm hạt nhựa/năm với tổng mức đầu tư trên 230 triệu Đô la Mỹ.
Để xây dựng phân xưởng này, các nhà thầu đã lắp đặt gần 400 hạng mục thiết bị, chế tạo, sơn phủ và lắp đặt trên 1.520 tấn thép kết cấu các loại, gần 300.000m cáp điện và 110.000m cáp điều khiển vv…
+ Nhân lực và công tác vận hành:
Công tác chạy thử từng phần của nhà máy bắt đầu từ cuối năm 2008. Trên 1.000 kỹ sư vận hành và công nhân kỹ thuật Việt Nam được tuyển dụng và đào tạo, cùng với các chuyên gia nước ngoài đã thực hiện việc vận hành chạy thử các phân xưởng công nghệ và toàn bộ nhà máy. Ngày 22/2/2009, nhà máy đã sản xuất ra dòng sản phẩm đầu tiên.
Với sự trợ giúp của 141 chuyên gia vận hành nước ngoài từ nhà thầu SK (Hàn Quốc) và KBC (Anh) từ tháng 10/2009, sau một năm kỹ sư và công nhân của Công ty LHD Bình Sơn đã dần thay thế được nhiều vị trí quan trọng, số chuyên gia nước ngoài nay chỉ còn 81 vị trí và sẽ tiếp tục giảm đáng kể trong năm 2011 này.
Từ thời điểm bàn giao đến cuối tháng 12/2010, Nhà máy luôn vận hành ổn định ở 100% công suất. Tổng khối lượng dầu thô đã nhập vào nhà máy khoảng 8,26 triệu tấn, Nhà máy đã chế biến và cung cấp cho thị trường được trên 7,13 triệu tấn sản phẩm các loại đạt chất lượng. 07 sản phẩm của nhà máy đã đạt Huy chương Vàng tại Hội chợ Thương mại Quốc tế (Vietnam Expo – 2010). Sản phẩm Kerosene/Jet A1 (nhiên liệu máy bay phản lực) đã được cấp chứng chỉ chất lượng quốc tế và chính thức đưa ra thị trường.
+ Phong trào thi đua liên kết trên công trường NMLD Dung Quất đã đạt được nhiều thành quả rất đáng khích lệ và mang lại ý nghĩa to lớn góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của dự án:
Từ năm 2006 đến năm 2010 có 348 lượt tập thể và 1.365 lượt cá nhân người lao động trong nước và quốc tế được các cấp, các ngành khen thưởng. Trong số đó có nhiều Huân chương Lao động và có một cán bộ được phong tặng Anh hùng lao động.
Đánh giá hiệu quả tổng thể của dự án:
Việc hoàn thành xây dựng NMLD đầu tiên của Việt Nam tại Dung Quất đã đặt nền móng vững chắc cho việc hình thành ngành công nghiệp lọc hóa dầu của Việt Nam, là một mốc quan trọng trong triển khai chiến lược công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế nước nhà. Công trình trọng điểm quốc gia về dầu khí này cho phép chúng ta chế biến và gia tăng giá trị dầu thô khai thác trong nước, đảm bảo từng bước về an ninh năng lượng, giảm bớt sự phụ thuộc vào nguồn cung cấp xăng dầu từ nước ngoài. Báo cáo tổng kết dự án của Chính phủ trình Quốc hội khóa XI đã khẳng định “đến thời điểm này, có cơ sở để khẳng định Nghị quyết của Quốc hội về chủ trương đầu tư dự án Nhà máy Lọc dầu Dung Quất là đúng đắn, đem lại hiệu quả thiết thực về kinh tế, chính trị, xã hội và an ninh quốc phòng”.
NMLD Dung Quất đã và đang thúc đẩy các nhà đầu tư trong và ngoài nước tiếp tục đầu tư vào Khu kinh tế Dung Quất nói riêng và khu vực miền Trung nói chung vào các lĩnh vực công nghiệp hóa chất, công nghiệp cơ khí, chế tạo và lắp ráp, đóng sửa tàu biển, luyện cán thép, vận tải, điện tử và các ngành công nghiệp khác. Năm 2005, Khu kinh tế Dung Quất đã cấp phép cho 20 dự án, với tổng số vốn đầu tư 1.218 tỷ VNĐ. Kể từ khi NMLD được chính thức tái khởi công xây dựng, thu hút đầu tư vào Khu kinh tế Dung Quất đã tăng đột biến. Đến cuối năm 2009 tổng cộng đã có 157 dự án được cấp phép với tổng vốn lên đến 10,3 tỷ USD, trong đó có 44 dự án đã đi vào hoạt động. Thu ngân sách của tỉnh Quảng Ngãi đã tăng từ 376 tỷ VND năm 2004 lên trên 14 tỷ VND năm 2010.
Bên cạnh những thành công đã đạt được của Dự án NMLD Dung Quất, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam cũng đánh giá và thẳng thắn nhìn nhận những điểm hạn chế của Dự án. Quyết định đầu tư Dự án NMLD Dung Quất được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt với dầu thô Bạch Hổ và công suất 6,5 triệu tấn/năm là phù hợp vào thời điểm năm 1997. Tuy nhiên, do xây dựng kéo dài nên nguồn dầu Bạch Hổ giảm sút, chất lượng sản phẩm tuy đáp ứng được TCVN nhưng chưa đón đầu xu thế khu vực cũng như mức công suất khiêm tốn của nhà máy hiện tại sẽ khó cạnh tranh được với các nhà máy lọc dầu khác.
Nhận thức được vấn đề này, ngay từ năm 2008 Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã lập kế hoạch tổng thể để nâng cao hiệu quả của Dự án. Hiện nay Tập đoàn và các đối tác nước ngoài đã ký hợp đồng lập Dự án đầu tư với Công ty JGC (Nhật Bản) để nghiên cứu khả năng nâng cấp, mở rộng NMLD DQ, theo đó, nguyên liệu sẽ được bổ sung bằng dầu chua, có giá rẻ và nguồn cung dồi dào hơn, công suất cũng sẽ được nâng lên đến gần 10 triệu tấn/năm. Theo dự kiến, dự án nâng cấp mở rộng sẽ dược triển khai trong năm 2011 và hoàn thành vào năm 2016. Việc mời các đối tác nước ngoài tham gia đầu tư vào Dự án cũng sẽ góp phần làm giảm gánh nặng về thu xếp vốn cho Tập đoàn Dầu khí Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu, bao gồm cả phương án thu xếp vốn, sẽ được các nhà đầu tư cân nhắc, đánh giá kỹ lưỡng trước khi quyết định đầu tư với mục tiêu đảm bảo sau khi nâng cấp, mở rộng hiệu quả sản xuất kinh doanh phải cao hơn hiện tại.
Lời kết:
Mặc dù quá trình thực hiện Dự án đã trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm lịch sử, nhưng tới hôm nay chúng ta đã cập bến vinh quang. Công trình Nhà máy lọc dầu Dung Quất đã hoàn thành và chính thức đi vào hoạt động, đánh dấu một mốc son trong lịch sử phát triển ngành dầu khí Việt Nam, xứng đáng là biểu tượng của giai cấp công nhân Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh.