View Single Post
  #22  
Cũ 29-12-2010, 14:40
nghiahoa nghiahoa is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Sep 2010
Bài viết: 1,003
Cảm ơn: 494
Được cảm ơn 1,882 lần trong 683 bài đăng
Default

Và bài viết của hongsonvh trên ttvnol

Trận hải chiến cảng Port Arthur

Ngày 8-9 tháng 2 năm 1904
Nơi Gần cảng Port Arthur, Mãn Châu

Kết quả Hòa về chiến thuật bế tắc, Nhật Bản chiếm lợi thế về chiến lược

Các bên tham chiến


Đế quốc Nhật Bản

Chỉ huy
Đô đốc Heihachiro Togo
Phó Đô đốc Shigeto Dewa

Sức mạnh

6 thiết giáp hạm Tiền-Dreadnought
9 tuần dương hạm bọc thép,
một số tàu hộ tống

Thương vong

90 người chết và bị thương


Đế quốc Nga

Chỉ huy
Oskar Victorovich Stark

Sức mạnh
7 thiết giáp hạm Tiền -Dreadnought
5 tàu tuần dương,
một số các tàu hộ tống

Thương vong
150 người và bảy tàu bị hư hỏng

Trận Port Arthur diễn ra ngày 08 -> 09 tháng 2 năm 1904 là trận khởi đầu của Chiến tranh Nga-Nhật. Nó được bắt đầu bằng một cuộc tập kích bất ngờ vào ban đêm bởi một hải đội tầu khu trục Nhật Bản vào hạm đội Nga đang thả neo tại Cảng Port Arthur, Mãn Châu, và trận đánh tiếp tục diễn ra trên phần lớn bề mặt của Cảng Port Arthurvào buổi sáng của ngày hôm sau. Trận đánh kết thúc mà không có một bên nào dành được chiến thắng quyết định, và các cuộc giao tranh để tranh giành cảng Port Arthur tiếp tục diễn ra tới tận tháng 5 năm 1904. Thất bại tại Port Arthur đối với người Nga và đặc biệt là đối với Sa hoàng Nicholas II ?" là một tai họa thảm khốc cho Đế chế của Nga Hoàng; tất cả những người Nga, từ giới quý tộc cho tới tầng lớp bình dân, thậm chí cả những người nông nô được giải phóng đã mất niềm tin vào quân đội của họ; đây là một nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cuộc Cách mạng Nga năm 1905, Và được ghi nhớ rất lâu cho tới tận khi xảy ra những thất bại thảm họa còn tệ hại hơn nhiều trong Chiến tranh thế giới I.

Giai đoạn trước trận chiến

Giai đoạn mở đầu của Chiến tranh Nga-Nhật bắt đầu với cuộc tập kích bất ngờ do Hải quân Đế quốc Nhật Bản tiến hành chống lại Hạm đội Thái Bình Dương của Nga đóng căn cứ tại Port Arthur và tại vịnh Chemulpo. Kế hoạch ban đầu của Đô đốc Togo là đột kích nhanh vào Port Arthur bằng Hải đội 1 của Hạm đội liên hợp, hải đội này bao gồm sáu chiếc tầu chiến lớp tiền Dreadnought, đó là các chiếc Hatsuse, Shikishima, Asahi, Fuji, và Yashima, Dẫn đầu là chiếc soái hạm Mikasa, và Hải đội thứ 2 bao gồm các tuần dương hạm bọc thép Iwate, Azuma, Izumo, Yakumo và Tokiwa. Những con tàu dẫn đầu và tàu tuần dương này được hộ tống bởi 15 tàu khu trục và khoảng 20 tàu phóng ngư lôi nhỏ hơn. Hải đội dự bị bao gồm các tàu tuần dương Kasagi, Chitose, Takasago, và Yoshino. Với lực lượng lớn được đào tạo và vũ trang tốt, và có ưu thế về tính bất ngờ, Đô đốc Togo hy vọng tạo ra một đòn đánh gục hạm đội Nga ngay sau khi cắt đứt quan hệ ngoại giao giữa các chính phủ Nhật Bản và Nga.

Về phía Nga, Đô đốc Stark có các tầu chiến tiền Dreadnought các chiếc Petropavlovsk, Sevastopol, Peresviet, Pobeda, Poltava, Tsesarevich, và Retvizan, được hỗ trợ bởi các các tuần dương hạm hạng nhẹ và loại được tăng cường giáp bảo vệ như Pallada, Diana, Askold, Novik, Và Boyarin. Toàn bộ số tầu bè trên đều dựa vào các pháo đài của căn cứ hải quân đã được tăng cường ở Port Arthur. Tuy nhiên, hệ thống phòng thủ của Port Arthur cũng không được mạnh mẽ như họ mong muốn, bởi vì có quá ít các khẩu đội pháo bờ biển có thể hoạt động được vì phần lớn kinh phí cho việc cải thiện phòng thủ đã được chuyển tới để tăng cường cho căn cứ ở gần Dalny, và hầu hết các sỹ quan được mời đến để dự một bữa tiệc kỷ niệm được tổ chức bởi Đô đốc Stark vào đêm 9 tháng 2 năm 1904.

Đô đốc Togo đã nhận được thông tin sai lệch từ điệp viên người địa phương được cài cắm ở trong và xung quanh cảng Arthur rằng các đơn vị đồn trú ở các pháo đài bảo vệ cảng đã được cảnh giác, ông không muốn có nguy cơ xảy ra với các tầu chủ lực của mình từ các khẩu đội pháo binh bờ biển Nga và do đó chúng có thể chặn đội tàu chiến chủ lực của mình lại. Thay vào đó, lực lượng tàu khu trục được tách ra thành hai hải đội tấn công, một hải đội với các tốp tầu nhỏ số 1, 2, và 3 tấn công Port Arthur, và hải đội kia, với các tốp tầu thứ 4 và thứ 5 tấn công các căn cứ hải quân của Nga tại Dalny.

Cuộc tấn công đêm 8-9 tháng 2 năm 1904

Vào khoảng năm 22:30 ngày 08 tháng 2 năm 1904, hải đội tầu tấn công cảng Port Arthur gồm 10 khu trục hạm chạm trán tàu khu trục tuần tra của Nga. Người Nga đã theo lệnh không phải để bắt đầu chiến đấu mà quay sang liên lạc để báo cáo về tổng hành dinh. Tuy nhiên, do kết quả của cuộc gặp gỡ này là hai tàu khu trục Nhật Bản đã bị tụt lại phía sau và phần còn lại trở nên bị phân tán. Vào khoảng 0.028, ngày 9 tháng 2 năm 1904, bốn tàu khu trục Nhật Bản đầu tiên tiếp cận cảng Port Arthur mà không bị nhìn thấy, và bắn ra một loạt tấn công bằng ngư lôi vào chiếc Pallada ( trúng vào giữa con tầu làm nó bốc cháy, và làm nó bị lật úp) và chiếc Retvizan ( tạo ra một lỗ thủng ở mũi của nó). Các tàu khu trục Nhật Bản khác đã không thành công, vì họ đến quá muộn để được hưởng lợi từ tính bất ngờ, và thực hiện các cuộc tấn công một cách đơn lẻ hơn là có sự kết hợp theo nhóm. Tuy nhiên, họ đã có thể vô hiệu hóa chiếc tàu mạnh nhất của hạm đội Nga, chiếc thiết giáp hạm Tsesarevich. Chiếc tàu khu trục Nhật Bản Oboro thực hiện các đợt tấn công mới nhất, khoảng 0.2:00, vào lúc này người Nga đã hoàn toàn tỉnh táo, và các đèn pha và súng của họ đã trở nên chính xác và chặt trẽ khiến các đợt tấn công bằng ngư lôi trở nên là không thể.

Mặc dù đây là một cuộc đột kích bất ngờ có các điều kiện thuận lợi lý tưởng, kết quả thu được lại tương đối nghèo nàn. Trong tổng số mười sáu ngư lôi được bắn ra, chỉ có ba quả là trúng đích, số còn lại hoặc bị trượt hoặc không phát nổ. Nhưng may mắn cũng không đến với người Nga trong chừng mực nào đó khi hai trong ba quả ngư lôi đã đánh vào những tàu chiến tốt nhất của họ: các chiếc Retvizan và Tsesarevich đã không thể tham chiến được tới hàng tuần, cũng như là chiếc tàu tuần dương Pallada.

Trận đánh trên mặt nước vào ngày 09 tháng 02 năm 1904
Sau cuộc tấn công vào ban đêm, Đô đốc Togo đã gửi cấp dưới của mình, Phó Đô đốc Shigeto Dewa, cùng với bốn chiếc tàu tuần dương để làm nhiệm vụ trinh sát nhiệm vụ vào lúc 0.8:00 để nhòm ngó vào các tầu đối phương đang neo ở Port Arthur và đánh giá thiệt hại. Vào khoảng 0.9:00 Đô đốc Dewa đã tới đủ gần để quan sát hạm đội Nga qua lớp sương mù buổi sáng. Ông quan sát thấy 12 tàu chiến và tàu tuần dương, ba hoặc bốn trong số đó dường như bị thương nặng nề hoặc mắc cạn. Các tàu nhỏ hơn bên ngoài lối vào bến cảng đang tập hợp một cách rõ ràng là rất lộn xộn. Dewa tiến đến gần cảng vào khoảng 7.500 yard (6.900 m), nhưng tàu Nhật Bản không quan sát được gì nhiều, ông được thuyết phục rằng các cuộc tập kích vào ban đêm đã thành công và làm hạm đội Nga bị tê liệt và quay lại báo cáo với Đô đốc Togo.

Không biết rằng Hạm đội Nga đã sẵn sàng cho trận chiến, Dewa hối thúc Đô đốc Togo rằng thời điểm này vô cùng thuận lợi để hạm đội chính tấn công chớp nhoáng. Mặc dù Togo đã ưu tiên thu hút hạm đội Nga ra khỏi sự bảo vệ của các khẩu đội pháo trên bờ, kết luận sai lầm theo hướng lạc quan của Dewa đã tạo nguy hiểm cho Hạm đội Nhật Bản. Đô đốc Togo ra lệnh cho hải đội đầu tiên tấn công vào bến cảng, hải đội thứ ba làm dự bị ở phía sau.

Khi tiến đến gần Port Arthur người Nhật lại chạm trán với chiếc tuần dương hạm Nga Boyarin đang làm nhiệm vụ tuần tra. Chiếc Boyarin bắn vào chiếc Mikasa ở tầm bắn cực đại, sau đó quay đầu và bỏ chạy. Vào lúc 11:00, ở khoảng cách khoảng 8.000 yard (7.000 m), cuộc chiến bắt đầu nổ ra giữa hai đội tầu Nhật Bản và Nga. Người Nhật tập trung các khẩu súng 12 in của họ bắn vào các khẩu đội pháo bờ biển trong khi sử dụng các khẩu 8 và 6 in của họ để bắn vào các tàu Nga. Bị bắn trả dữ dội từ cả hai mặt, nhưng người Nhật đã bắn cháy các chiếc Novik, Petropavlovsk, Poltava, Diana và Askold. Tuy nhiên, người Nhật nhanh chóng nhìn thấy một cách hiển nhiên rằng Đô đốc Dewa đã thực sự mắc một lỗi nghiêm trọng. Trong năm phút đầu tiên của trận đánh chiếc Mikasa bị trúng một phát đạn đập nảy, thế là nó nổ tung làm bị thương ngườ kỹ sư trưởng, viên trung úy cầm cờ, và năm sĩ quan khác và phá tung cây cẩu ở phía sau.

Vào lúc 12:20 Đô đốc Togo đã quyết định đảo ngược chiều của Hạm đội Nhật Bản và thoát khỏi cái bẫy (xơi đạn chéo cánh xẻ từ tầu chiến và pháo bờ biển của Nga). Đó là một sự cơ động cao, đầy rủi ro vì hạm đội Nhật Bản trở thành mục tiêu cho các khẩu đội pháo bờ biển Nga. Mặc dù bị bắn phá dữ dội, các thiết giáp hạm Nhật Bản hoàn thành quá trình cơ động và nhanh chóng rút ra khỏi vùng nguy hiểm. Các chiếc Shikishima, Iwate, Fuji, và Hatsuse tất cả đều bị hư hại. Một vài phát đạn cũng đã chiếc tuần dương hạm của Hikonojo Kamimura khi nó đang quay đầu. Tại thời điểm này chiếc Novik tiến tới gần chiếc tuần dương hạm Nhật Bản vào khoảng 3.300 yard (3.000 m) và bắn ra một loạt ngư lôi. Tất cả các bị trượt và chiếc Novik nhận được một cú đánh trả nặng nề dưới mực nước.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
Old Tiger (29-12-2010)