(tiếp theo)
Dù sao đã đến đây mà không gặp được anh thì sẽ rất ân hận nhưng trong tình thế này cứ phải về đến khách sạn rồi sẽ tính sau vậy. Tôi nhắc Uyên Ly quay mặt túi xách có logo của báo Tuổi trẻ vào phía trong để đừng ai chú ý, rồi chúng tôi thuê một chiếc taxi. Cầm địa chỉ trên tay, trên đường từ sân bay về khách sạn ông tài xế vui chuyện hỏi chúng tôi từ đâu đến và định làm gì ở đây? Chúng tôi bảo ở Việt Nam qua, đang thăm dò thị trường tơ lụa. Ông à à tỏ ra thông cảm và không hỏi gì thêm.
Khách sạn nằm ở một quãng vắng trên đường từ sân bay vào thành phố Oakland. Đó là một khu nhà không lớn, trông có vẻ bình dân. (sau này qua tài liệu để trong phòng tôi biết Ramada có cả một hệ thống ở nhiều nước trên thế giới) Bước vào lobby hình ảnh đầu tiên đập vào mắt tôi là hai ông bà chủ với nước da nâu vùng Trung Đông, vẻ mặt không có vẻ gì là hiếu khách. Phía sau lưng họ có dòng chữ lớn “Ramada” tên khách sạn. Cảm giác cứ như đang như lạc vào thế giới đạo Hồi! Chúng tôi hỏi ông bà chủ về việc muốn nhận phòng đã đặt từ internet, sau một hồi kiểm tra họ cho biết dù đã có xác nhận giữ phòng nhưng tiền chưa chuyển tới, coi như không hợp lệ. Một thanh niên người châu Á cũng đang đi tới đi lui trong sảnh. Anh cứ nhìn chúng tôi như muốn chuyện trò, rồi lại thôi. Ngập ngừng hồi lâu anh hỏi giọng miền Nam khá thân thiện: “Các chị mới qua hả?” Thì ra anh đã biết chúng tôi là đồng hương, nhưng chỉ thế thôi, không phải là nhận diện được từ báo chí. Sau khi than phiền về việc ở đây thường xảy ra sự trục trặc phòng ốc sao đó và thăm hỏi chúng tôi vài câu xã giao, anh bước ra ngoài. Mọi sự không có gì phải cảnh giác!
Sau hồi lâu trao đổi cuối cùng chúng tôi lại phải đóng tiền mặt mới có phòng nghỉ. Để hành lý lên giường, tôi bàn với Hiền và Uyên Ly tiếp tục liên lạc với Hiếu. Em gái tôi vốn có duyên trong các cuộc thương thảo, tôi mong là lần này Hiền cũng sẽ thuyết phục được Hiếu. Hiền bấm số, may sao gặp được Hiếu đang ở nhà. Tôi nghe giọng Hiền cứ nhẩn nha nói với Hiếu một cách nhẹ nhàng, từ những tình cảm của chúng tôi trong những ngày vừa qua khi đang ở trên đất Mỹ đến việc gặp gỡ cảm động ở nhà Fred, sau đó ân cần hỏi Hiếu về cuộc sống gia đình, về hai đứa con sinh đôi học giỏi của anh, về việc đưa đón vợ anh đi làm các con anh đi học hàng ngày liệu anh có quá vất vả…Rồi Hiền lại nhắc tới việc gặp gỡ. Không hiểu anh nói gì lúc đó mà em gái tôi kêu lên: “Không, em đã đến đây rồi mà không gặp được anh là em không chịu đâu!” Thì ra anh lại tránh cuộc gặp, và cách từ chối của anh nghe thật mủi lòng: “Tôi mang ơn gia đình cô vì đã đến đây thăm tôi, cô Thùy đã cứu sống cuộc đời tôi, nhưng lần này không gặp được đâu, hẹn lần sau…” Anh lại hoãn binh là phải đi đón con, về sẽ tính tiếp.
Ba chị em tôi thấy thương anh lạ lùng. Có vẻ anh đang bị nhốt trong một tâm trạng hoang mang sợ hãi, không tự tin, một sức ép tinh thần nào đó đã đè nặng khiến anh luôn hốt hoảng không thể thoát ra được.Tuyệt không thấy anh oán trách về những sự phiền phức từ gia đình của người chủ cuốn nhật ký có lửa, nhưng lại không thể gặp chúng tôi. Chắc là anh rất hiền lành nên quá nhút nhát. Cho đến lúc này chúng tôi cũng chưa biết có thật là có một ai đó hay nhóm người nào đó đang chú ý đến Hiếu, ngăn cản đe doạ không cho anh tiếp xúc với chúng tôi? Thật là khó xử vì chúng tôi không muốn anh phải lâm vào tình trạng không may nào đó mà cuộc gặp gỡ có thể gây ra sau này.
Đã quá trưa, sau khi gọi đem một ổ bánh pizza lên phòng, ba chị em cứ thế vừa ăn vừa bàn kế hoạch. Chúng tôi thống nhất là phải gặp được Hiếu, và thử đưa ra những phương án khác nhau. Nếu cả ba chị em cùng đi có thể gây cho Hiếu cảm giác bị sức ép và sự chú ý từ bên ngoài. Vả lại Hiếu đã từ chối mà chúng tôi cứ đến có thể làm anh không vui. Hai chị em tôi đi thì Uyên Ly không chịu, còn nếu chỉ một người đi “tiền trạm” có lẽ nên để Uyên Ly gặp Hiếu trước là hợp lý hơn cả vì anh đã biết Uyên Ly là phóng viên có quyền tiếp xúc, cô lại đã chuyện trò với Hiếu nhiều lần qua điện thoại như vậy đã là người quen của nhau. Cô sẽ nhắc cho anh về lời mời của anh là lý do chị em tôi có mặt ở đây, và sau đó chúng tôi sẽ danh chính ngôn thuận đến gặp anh.
Uyên Ly gọi về toà soạn báo cáo tình hình và giống như một chuyên án trong phim hình sự cô cho biết có ba phương án: 1. Hiếu vui vẻ tiếp 2- Công khai đến để Hiếu miễn cưỡng tiếp -3. Bí mật tiếp cận và xuất hiện. Cô được lệnh thực hiện phương án 3. Thế là Uyên Ly bấm vào máy câu nhắn tin gửi về toà soạn cũng mang đầy tính hình sự : “Đã rõ!”
Chúng tôi chọn thời gian đến vào khoảng giữa buổi chiều để có thể gặp Hiếu ở nhà. Một thoáng lo ngại khi Uyên Ly chuẩn bị xuất phát, tôi nhắc cô bỏ lại khách sạn cái túi phóng viên, cất giấy tờ hộ chiếu và tiền bạc sao cho kín đáo, và để cô không phải mở số tay hay lung túng tìm kiếm giấy tờ gì tôi ghi sẵn mảnh giấy có tên nhà, số điện thoại của Hiếu để cô đưa cho tài xế taxi tìm đường, và dặn dò khi gặp được Hiếu phải báo tin ngay cho chị em tôi đang luôn túc trực ở khách sạn. Đúng 3 giờ chiều Uyên Ly lên đường. Cô gái này thật can đảm và có bản lĩnh.
Uyên Ly đi rồi, tôi và Hiền bỗng thấy bồn chồn. Chúng tôi hình dung tình huống xấu có thể xảy ra: cô gái trẻ trung xinh đẹp như thế, đi một mình đến nơi xa lạ trong hoàn cảnh có thể không có sự trợ giúp và biết đâu có những kẻ quá khích…Trời đã về chiều mà chẳng có tin tức gì, chúng tôi lại không có điện thoại di động mà máy bàn của khách sạn thì từ chối không cho gọi đến San Jose vì khác vùng. Ruột gan như có lửa đốt, loay hoay mãi cuối cùng chúng tôi cũng tìm cách gọi được cho Kim Trâm đang cùng mẹ ở NewYork. May sao hồi sau Kim gọi đến báo là đã liên lạc được với Uyên Ly, mọi sự không có gì đáng ngại. Khoảng 6 giờ 30 chiều, Uyên Ly gọi về báo chúng tôi là Hiếu đã sẵn sàng tiếp hai chị em. Chỉ chờ có thế, chúng tôi vội nhờ khách sạn gọi ngay taxi nhưng vì trời sắp tối mà khách sạn lại không ở trong trung tâm thành phố nên cũng phải gần một giờ sau mới có xe. Trước khi chúng tôi đi cô tiếp tân ở khách sạn là người Philippin nên rất nhiệt tình với đồng hương châu Á, đã ân cần dặn tôi là taxi đến San Jose chỉ khoảng 50-60 USD là cùng. Thế là lên đường.
Bác tài xế có bộ râu rậm, tôi đưa miếng giấy ghi địa chỉ cần đến cho ông, ông nhìn rồi gật đầu, mở cửa xe cho chúng tôi vào. Xe taxi này thật lạ: có hẳn một tấm kính dày ngăn cách giữa khách và tài xế, ngoại trừ một khe nhỏ để khi khách trả tiền thì bỏ vào. Kiểu này không thể hỏi han trò chuyện gì được với bác tài để thăm dò về thành phố San Jose. Có lẽ ở đây hay có cướp xe? Tôi và Hiền nhìn nhau cười vì sự bí hiểm của chuyến đi dường như ngày càng tăng dần.
Quả vậy, trời đã tối hẳn mà xe cứ lầm lũi đi trên con đường dài vắng vẻ, lúc lên đồi lúc xuống dốc, hai bên đường thấp thoáng ánh đèn đỏ quạch. Đồng hồ trên xe đã nhảy đến con số hơn 80USD mà vẫn chỉ là xa lộ chẳng thấy phố phường đâu. Đành phải cứ đi thôi, hai chị em tôi yên lặng suy nghĩ mông lung. Tôi nghĩ về Hiếu và cuộc gặp gỡ sắp xảy ra: chúng tôi sẽ thấy Hiếu bằng xương bằng thịt như thế nào? Anh sẽ đối xử với chúng tôi ra sao? Thân mật hay là lạnh lẽo? Và còn điều gì xảy ra? Chúng tôi ân hận là lúc chiều khi Uyên Ly gọi về báo tin Hiếu đang đợi, mừng quá cả hai chị em không kịp hỏi chi tiết đường đi xa hay gần và có gì đáng chú ý không để định liệu trước.
Cuối cùng thì xe cũng đã vào được thành phố San Jose. Nơi đây nghe nói rất nhiều người Việt sinh sống, tôi nhìn hai bên đường và nhận ra nét gì rất quen, nhà cửa, vỉa hè, đường phố giống như đường phố Việt Nam. Vì là buổi tối nên khá vắng vẻ, xa xa thấp thoáng vài bóng người đi bộ không rõ có phải Việt Nam không, thỉnh thoảng một vài chiếc xe ô tô chạy nhanh trên phố. Sau một hồi chạy loanh quanh, bỗng bác tài ghé xe vào mé bên phải đường và chỉ tay vào một khu nhà cho tôi biết đã đến nơi. Lúc đó khoảng hơn 8 giờ tối, mở cửa xe bước ra.tôi đang quan sát khu chung cư thì ngay trên vỉa hè hai bóng người bước tới, giọng Uyên Ly khe khẽ…chúng tôi gặp nhau như vậy.
Hiếu đứng ngay trước mặt tôi, đó là một người đàn ông mập, già nua mệt mỏi, chiếc áo sơ mi bỏ ngoài quần nên nhìn rõ cái bụng khá lớn và trông anh có vẻ hơi xộc xệch. Tôi lại có cảm giác hư ảo và tự vấn mình: đã gặp Hiếu rồi sao, người phiên dịch năm nào cứu cuốn nhật ký của chị tôi là anh đó sao?
Chúng tôi chào hỏi nhau, rồi anh dẫn chúng tôi vào chung cư, vừa đi vừa giải thích là nơi đây rất an toàn, khi đã bước vô nhà thì không phải lo lắng gì nữa. Trông anh đi bước thấp bước cao nặng nề phía trước, cái cách giới thiệu về sự an toàn của chung cư nơi anh ở và rồi chỉ vài phút sau anh lại nói có lần nhà anh hình như bị ai đó bắn cảnh cáo(?) Rõ ràng anh ở trong trạng thái rất bất an, tôi bỗng như đọc được những suy tư nơi anh, hình dung những thăng trầm mà anh đã trải qua chắc là nặng nề lắm nên đã ám ảnh anh đến như vậy.
Chúng tôi vào thang máy lên tầng 3, sau đó đi thêm vài bước Hiếu mở cửa một căn hộ mời chúng tôi vào. Bé gái chừng 2 tuổi thấy chúng tôi thì rất dạn dĩ chạy đến chào lặp đi lặp lại bằng tiếng Việt rất rõ: cháu chào bác! Cháu chào bác! Vợ anh, người phụ nữ Việt Nam trẻ có gương mặt rất đẹp lặng lẽ nhìn chúng tôi, khẽ chào rồi chị dẫn con biến vào phía sau cánh cửa của căn phòng sát đó.
Căn hộ của Hiếu khá hoàn thiện, bài trí không có vẻ Mỹ, đây đó vương vãi vài món đồ trẻ con. Anh mời chúng tôi ngồi ở chiếc salon nơi góc phòng, trong ánh sáng mờ của ngọn đèn phía xa. Ngay phía trước chỗ chúng tôi ngồi là kệ thờ có để chân dung một người đàn ông mặc theo lối nho học. Hiếu nói nhà anh theo đạo thờ cúng ông bà, chú trọng việc giữ điều nhân đức. Quả thật vậy, trông anh hiền lành có phần nhút nhát. Fred nói đúng, anh có nét giống một người đi trong đoàn cùng với chúng tôi trong chuyến đi Quảng Ngãi. Nhưng đã 35 năm rồi, làm sao Fred biết chàng thanh niên Nguyễn Trung Hiếu ngày ấy lại trở thành người đàn ông đứng tuổi mập mạp như Hiếu bây giờ?
Chúng tôi nói với anh chuyện gia đình tôi đến Mỹ, chuyện cuốn nhật ký được dư luận ủng hộ và nhắc nhờ anh chúng tôi mới có cơ hội như ngày hôm nay. Hiếu nói ngay: “Tôi không biết chính trị, chỉ vì giọng văn bắt mắt nên tôi đã can Fred đừng đốt cuốn nhật ký, chuyện lâu quá rồi không ngờ…” Tôi tin anh, vì một người hiền lành như anh chắc chắn không bao giờ dám nổi loạn chống đối điều gì, anh là người mẫn cảm, yêu cái đẹp của câu văn hay, đồng cảm với tâm hồn lãng mạn. Những trang viết của chị tôi dù là nhật ký chiến tranh, nhưng là cuộc sống tâm hồn của một người con gái đang tràn trề sức sống với những ý nghĩ thánh thiện, may mắn sao lại được chị chuyển tải bằng giọng văn cùng nhịp rung trong tâm hồn anh, khiến anh không thể đành bỏ qua. Chỉ có vậy thôi, không vì lý do nào khác.
Hiếu chẳng giấu điều gì, anh kể cho chúng tôi nghe về quãng đời sau khi anh ngăn Fred đừng đốt cuốn nhật ký của chị tôi. Lính phiên dịch các anh lúc đó trong tình trạng rất cơ động, nay bị điều đến chỗ này mai lại bốc đi nơi khác, chẳng biết trước được số phận sẽ ra sao. Mặc dù anh không phải là phiên dịch giỏi nhất, nhưng lại hay được Fred gọi, chắc là do hợp tính nhau? Anh nói rằng Fred lúc đó còn rất trẻ, mới chỉ ngoài 20 nhưng ai cũng “ngán” vì tính cách của anh này nói một là một, hai là hai. Anh bồi hồi nhớ về người bạn phiên dịch tên Đức vì muốn dành cho anh cơ hội được ở nhà để gặp bạn gái vừa từ xa đến thăm, đã chết thay anh trong cái lần theo đơn vị đi hành quân.
Cuộc chuyện trò khá cới mở, nhìn Hiếu sinh động hơn. Khi anh cười tôi nhận ra một vẻ tao nhã và sự sinh động của cách anh trò chuyện làm mờ đi cái cảm giác về người đàn ông già nua mệt mỏi lúc mới gặp ngoài đường.
Khác với sự rụt rè cảnh giác trong điện thoại, anh không có vẻ né tránh, không có gì bối rôi và còn đùa: “Gặp Uyên Ly, có chết vì người đẹp cũng đáng!” nhưng vẫn nhắc đi nhắc lại không biết chính trị là gì. Anh trả lời tất cả những câu hỏi của chúng tôi về quãng thời gian đã trải qua sau khi phát hiện cuốn nhật ký, rồi những ngày sau giải phóng phải sống 7 năm trong trại cải tạo. Trong lúc hồi tưởng về quá khứ, anh đọc thơ cho chúng tôi nghe, và còn sẵn lòng nhắc lại từng câu để tôi chép bài thơ do chính anh làm khi còn ở trại cải tạo:
Sáng qua dòng sông nhỏ
Thân thương có ý lo
Hỏi tôi người năm trước
Còn yêu dấu đợi chờ
Cám ơn anh Trà Buông
Yêu thương như cải lương
Phấn son và nước mắt
Lau khô là hết tuồng
Những câu thơ buồn qúa. Hiếu thật là một người rất đa cảm và chắc là cô đơn lắm trong những ngày ấy. Anh đã nhận được những tin gì không vui? Gian khổ vật chất chắc là không đau bằng nỗi buồn về sự mất mát tình cảm. Khi biết rằng đã xảy ra cái chuyện giống như cảnh phấn son và nước mắt dù mùi mẫn đến đâu trên sân khấu nhưng hết tuồng chỉ cần lau khô là sạch sẽ, anh buồn da diết nhưng chẳng thể nói cùng ai, đành tâm sự với sông Trà Buông, con sông nhỏ gần trại cải tạo nơi anh sống như là chuyện trò với người bạn thân thương tri kỷ.
Trong những ngày khó khăn ở trại cải tạo, Hiếu vẫn nhớ và kể với chúng tôi về người giám thị tên Lâm mà anh rất kính trọng. “Cán bộ” Lâm trông coi các anh làm các công việc lao động hàng ngày, tính tình nghiêm túc nhưng nhân hậu và rất có đạo đức. Đó là cũng là hình ảnh về nhân cách đẹp đẽ của một con người phía bên kia sau chị Thùy Trâm anh còn lưu giữ trong ký ức.
Nhắc những chuyện đã qua với chút cay đắng, anh nói rằng chẳng ai tin anh, và dù mang tiếng là làm việc cho CIA nhưng anh lại không được hưởng tiền Mỹ vì bị nghi ngờ là thân cộng sản. Gia đình anh nay đều định cư ở Mỹ nhưng mẹ anh lại trở về sống ở quê nhà với người em đau ốm ở Sóc Trăng. Anh không yên lòng vì không được kề cân chăm sóc mẹ trong những năm tuổi già…Bao năm nay anh sống không có bạn, không có niềm tin và cũng chẳng thể tự tin.
Sau khi học tập về, anh dắt con trai lên thuyền vượt biển. Bao ngày lênh đênh, sức đã tàn, đã cảm thấy tuyệt vọng thì thuyền của anh dạt vào một hòn đảo nhỏ. Thật không hiểu sao lại có sự may mắn đến vậy vì Inđonesia có hàng nghìn đảo mà thuyền của anh lại dạt vào đúng cái đảo tập trung người tỵ nạn. Một thời gian sau anh qua Mỹ tìm được việc làm rồi gặp người vợ hiện nay. Lúc ấy chị là nhân viên còn anh là “sếp”, anh lớn hơn chị tới 14 tuối. Chị là người nhân hậu, đã nhìn thấy cái đẹp trong tâm hồn anh, chị tin ở con người hiền lành của anh và dành cho anh một tình yêu tuyệt đối, đã dám cùng anh và còn cưu mang anh vượt qua những trở ngại lớn lao cả về vật chất lẫn tinh thần. Ngay trong thời điểm này trong lúc anh chưa có việc làm thì chị vẫn vất vả theo đuổi công việc ở nhà máy để trang trải cho cả gia đình, ngày nào cũng phải thức dậy từ 3 giờ sáng và phải theo ca đến 5 giờ chiều mới về.
Có chút ái ngại nhưng chúng tôi mừng cho anh đã tìm được người vợ thật tốt, và chợt có một sự liên hệ tâm linh: anh đã làm điều thiện, cuộc đời đã bù đắp cho anh như luật nhân quả. Có được chị, dù cuộc sống của anh hiện vẫn đang có nhiều thử thách nhưng tôi tin rằng Hiếu sẽ không bao giờ còn phải đem câu thơ cay đắng năm nào bên bờ sông Trà Buông ra để suy ngẫm về nhân tình thế thái của cuộc đời.
Nghe chúng tôi chuyển lời thăm hỏi và một món quà nhỏ của mẹ tôi, Hiếu cảm động cám ơn và nhắc lại rằng chính chị Thùy Trâm đã cứu cuộc đời anh, nhờ cuốn nhật ký nay mọi người đã hiểu anh. Anh bảo rất vui vì gặp được gia đình tôi dịp này.
Tôi ướm lời hỏi anh rằng cuốn nhật ký đã xuất bản thành sách, chúng tôi mang theo để trân trọng dành cho anh, nhưng mẹ tôi chưa ký tặng vì chữ ký tặng của gia đình liệu có ảnh hưởng gì đến anh? “Không, các cô ký vào chứ” thế là tôi và Hiền thay mặt gia đình ký tặng và trao cho anh bản in của chính cuốn nhật ký mà sau chị Thùy Trâm anh là người đầu tiên đọc 35 năm trước.
Khi chúng tôi đề nghị chụp một vài tấm ảnh kỷ niệm cuộc gặp gỡ, anh ngập ngừng đôi chút rồi giải thích: xưa nay anh vốn ngại chụp ảnh, nói thêm là vì anh mắc chứng “shy photo”, bạn bè hiếm khi thấy có ảnh anh. Nhưng anh bảo chúng tôi cứ tự nhiên, rồi chủ động tiến lại chiếc bàn dưới ánh đèn ở phía góc kia của căn phòng. Chúng tôi chụp vài kiểu, và cuộc trò chuyện lại tiếp tục.
Chúng tôi lại chuyển lời mẹ tôi mời anh một chuyến về thăm Việt Nam, Nguyễn Trung Hiếu phân vân. Anh bảo anh rất mong có một ngày nào đó được thăm Hà Nội nhưng chưa biết lúc nào có thể thực hiện, và chuyến đi Việt Nam của anh phải là con đường chính thức. Hiếu ơi, anh vẫn chưa hiểu được sao? Mẹ Việt Nam đâu có hẹp cửa với người con xa tổ quốc nào, nhiều năm nay biết bao Việt kiều từ khắp nơi trên thế giới về thăm nhà thường xuyên, và nhiều người đã về ở lâu dài với các kế hoạch làm ăn trong nước. Anh đã làm một việc nhân ái khi giữ cuốn nhật ký của chị tôi lại, cuốn nhật ký nay được đánh giá là một báu vật không chỉ của gia đình mà còn của cả dân tộc vì đó chính là linh hồn cả một thế hệ thanh niên Việt Nam yêu nước hào hùng. Lá thư của thủ tướng Phan Văn Khải cũng có lời cám ơn anh, bao nhiêu người đã nói về hành vi tốt đẹp của anh, làm sao anh lại không phải là khách mời chính thức của chúng tôi?
Uyên Ly động viên anh là báo Tuổi trẻ cơ quan cô sẽ dành cho anh một sự tiếp đón trọng thị, ấm áp. Anh có thể về thăm quê, về Sóc Trăng nơi mẹ già đang ở với người em trai anh, rồi ra Hà Nội, nơi anh hình dung ra bao điều thơ mộng đẹp đẽ mà chưa một lần tới. Hiếu trầm ngâm, chắc anh nghĩ về một ngày trong tưong lai không xa điều đó sẽ thành hiện thực.
Tôi hỏi thăm quê anh. Hiếu kể về quê hương Bến Giá ở một huyện vùng biển Trà Vinh, nơi có những giồng cát trắng mùa giáp tết người ta trồng rất nhiều dưa hấu. Lúc đó là mùa khô, mỗi lần gió to cát bay mù mịt, đường đi trong xóm cũng đầy cát, mỗi bước đi lại nghe cát lạo xạo dưới chân. Dưa trồng trên giồng cát khô, những người trồng dưa phải gánh hàng trăm gánh nước tưới dưa mỗi ngày thật cực. Và anh rất nhớ những trái dưa hường nấu canh có vị ngọt mát rất riêng. Quê anh có cốm dẹp không đâu ngon bằng, món cốm dẹp làm từ nếp mới rang trộn dừa nạo với chút đường sao thơm ngon đến vậy. Anh bảo ở Mỹ họ cũng bán cốm dẹp, làm kỹ và có vẻ cũng được lắm, nhưng có lẽ ký ức tuổi thơ đã cho anh cảm giác rằng chỉ có cốm dẹp thời anh còn là đứa trẻ 10 – 12 tuổi đi giữ trâu mới ngon như vậy.
Rồi gia đình anh phiêu bạt lên Sài Gòn. Hiếu rất thương mẹ, anh nhắc nhiều tới hình ảnh má anh hàng ngày đi bán bánh dạo ở các trường học trong khi ba làm nghề cắt tóc dạo. Chàng thanh niên Nguyễn Trung Hiếu ngày ấy nhà nghèo, ham học nhưng gia đình không có tiền phải gửi anh vào học ở trường dòng. Các thầy dạy anh đa số người Bắc, mà giọng văn của người Bắc đối với anh hình như rất hợp khiến ngày mỗi ngày cứ thấm vào anh, vậy nên khi đọc cuốn nhật ký chính giọng văn ấy đã “bắt “ được anh.
Thời tuổi trẻ Hiếu là người đa cảm lãng mạn, ký ức lần lượt trỗi dây trong anh, đã nhiều năm trôi qua và trải bao thăng trầm ngay lúc này trong anh vẫn nhớ về xóm nhỏ gần cây cầu Thị Nghè ở Sài Gòn, nơi anh có cô bạn gái…Chợt Hiếu nói với chúng tôi: ngày ấy khi cầm trên tay cuốn nhật ký, thấy có kẹp tờ giấy chép bài thơ “Núi đôi”. Bài thơ sao hay và xúc động quá…Dù biết cất giấu tài liệu của phía bên kia là vô cùng mạo hiểm nhưng anh đã lén giữ bài thơ lại để lâu lâu giở ra đọc. Sau này chiến tranh loạn lạc anh đã không giữ được bài thơ ấy, nhưng vẫn nhớ…
Vẫn băn khoăn rằng có ai đó sẽ làm phiền anh sau khi biết chúng tôi đến thăm, tôi lại gặng hỏi anh xem sau cuộc gặp gỡ này liệu có sao không ? Hình như mọi chuyện thực sự không có gì, thấy Hiếu đã có vẻ tự tin. Anh cứ nhắc rằng cuốn nhật ký của cô Thuỳ Trâm cứu cuộc đời anh, vì trước kia không ai tin anh, không muốn nói chuyện với anh thì nay mọi người đã hiểu anh và tỏ ra rất thân thiện, chủ động bắt tay, họ còn hỏi bao giờ anh về Việt Nam? Như vậy cuộc đời anh chắc đã đổi khác rồi, anh có thể hy vọng. Anh cũng vừa kết thúc một khoá học nghiệp vụ bảo vệ, và muốn tìm công việc phù hợp để có thể vẫn đưa đón vợ con hàng ngày. Chúng tôi gợi ý về việc có thể nhờ người bạn cũ Fred tìm việc cho anh? Nếu vậy thì cũng khó quyết định, vì anh còn vợ con ở đây…
Đã nửa đêm, chúng tôi phải tạm biệt Hiếu vì sáng mai anh phải dậy sớm từ lúc 3 giờ sáng để chuẩn bị đưa vợ đi làm.Trong lúc Uyên Ly nhờ điện thoại của anh để gọi taxi, tôi bỗng thấy Hiếu xua tay làm dấu gì đó, hình như muốn ra hiệu đừng làm ồn. Khi theo tiễn chúng tôi ra cửa, cánh cửa sau lưng vừa khép lại anh nói ngay: “Để tôi đưa các cô về!” Tôi hơi bất ngờ nhưng thấy trào lên một cảm giác vui mừng khi anh khẳng định: “Tôi biết có thể có chuyện, nhưng tôi không đưa các cô về thì không đáng là người đàn ông”. Không biết điều gì làm anh lo, nhưng việc anh quyết định hành xử “như một người đàn ông” chứng tỏ anh đã thắng được sự ngại ngần, có tự tin và can đảm bước qua ranh giới của cuộc sống khép kín lâu nay. Điều này đáng giá biết bao.
Trời khuya, đường vắng và se lạnh. Chúng tôi ghé đổ xăng, Hiếu tranh thủ hỏi đường vì hình như anh cũng chưa bao giờ đến Oakland. Khi xe về đến khách sạn thì cửa gian lobby đã đóng, hầu như tất cả đã im lìm trong giấc ngủ. Hiếu không quay về ngay mà cho xe vào bãi đậu, rồi bảo:” Tôi phải có một ly cà phê mới về được”. Chúng tôi mời anh lên phòng, và nhanh chóng thu dọn những vật dụng còn để bừa bộn trên giường vì lúc chiều vội đi không kịp cất. Chỉ còn có một bịch cà phê, chúng tôi nấu trong chiếc ấm điện có sẵn trong phòng và rót ra ly mời Hiếu. Anh cầm ly cà phê trong tay, xoay xoay mà chưa uống. Chúng tôi lại nói chuyện với nhau, lần này thì Hiếu tự chủ động nói và chúng tôi phụ hoạ theo. Ly cà phê như cái cớ để Hiếu ngồi lại với chúng tôi, anh bảo đã rất lâu mới nghe tiếng Việt Nam được nói lưu loát, giọng Hà Nội thật hay. Có lẽ lâu lắm Hiếu mới có dịp ôn lại những ngày xa ngái đã tưởng như không bao giờ còn có dịp nhắc lại. Anh nói mải mê về những điều thật giản dị: vùng nước mặn quê anh, món ăn cá kèo đặc sản, những con đuông nơi giồng cát và mùa dưa tết… Dòng cảm xúc trong anh cứ dâng trào không ngưng lại được, anh cứ nói và chúng tôi nghe anh nói.
Tôi bỗng hỏi Hiếu và Uyên Ly: mọi người đã ăn gì chưa? Thì ra cả bốn người chúng tôi chưa ai ăn bữa chiều, gặp nhau xúc động quá cũng không ai nhớ…không khí hình sự đã tan biến tự lúc nào, cả Hiếu và chúng tôi đều có cảm giác nhẹ nhõm, thoải mái. Mở hộp khoai tây chiên vừa mua ở trạm đổ xăng chia nhau, câu chuyện cứ tiếp nối cho đến khi Hiếu chợt nhớ phải về vì sắp tới giờ anh đưa vợ đi làm. Chúng tôi chia tay với đôi chút bịn rịn và tiếc sao thời gian quá ngắn.
Tiễn Nguyễn Trung Hiếu ra về trời đã gần sáng, ai nấy đều mệt nhoài nên chúng tôi cứ để nguyên quần áo, kéo chăn đắp qua loa và ngủ một giấc ngủ ngắn nhưng thật ngon trong tâm trạng thanh thản vì biết rằng rằng mình đã làm được một việc to tát: gặp được Nguyễn Trung Hiếu, người ân nhân của gia đình tôi. Quan trọng hơn là cuộc gặp gỡ đã làm cho mọi việc tốt hơn, có hậu hơn. Chúng tôi biết từ nay có thể yên tâm về anh, dù cho nếu còn một ai đó không thiện cảm với cái việc anh giữ lại cuốn nhật ký của đối phương đe doạ nhưng từ nay anh sẽ đủ tự tin để giữ cho mình không phải phập phồng lo lắng, và sẽ có một ngày chúng tôi được đón anh ở Việt Nam trong vòng tay gia đình bè bạn, trong sự cảm động như đã đón anh em Fred vừa cách đây không lâu…
Chuyến bay trở về từ Oakland đến sân bay J.F. Kenedy của chúng tôi xuất phát từ 8 giờ sáng, nhưng lại bay theo múi giờ nên xuống được sân bay đã là 5 giờ chiều, dù thời gian ngồi trên máy bay cũng chỉ 6 tiếng đồng hồ. Mẹ và em chúng tôi đang chờ, tuy đã biết là cuộc gặp gỡ với Nguyễn Trung Hiếu cuối cùng đã xảy ra tốt đẹp, nhưng một việc quan trọng như vậy cần phải biết từng chi tiết! Chúng tôi đã sẵn sàng báo cáo với mẹ về “nhiệm vụ đã hoàn thành “!
__________________

Ký cả hai tay!
|