Maia, Maia…
Các diễn viên múa ba lê khác cùng thế hệ với Maia đã nghỉ hưu từ lâu. Nhưng Maia vẫn bước lên sàn diễn, để múa ba lê, để sống, để trị vì. Và do đó không thể hình dung được tuổi tác của Maia, và vì thế biết gọi Maia bằng gì cho thỏa đáng? Không thể gọi người phụ nữ trẻ trung kia bằng bà, nhất là khi người phụ nữ ấy đang múa. Băng giá và ngọn lửa, rực rỡ và kiêu sa, nữ hoàng ba lê, Raimonda và Odetta, Odillia và Egina, Bà chủ Núi Đồng hay Carmen, Kitry và Anna Karenina … tất cả đều là nàng – Maia!
Maia Plisetskaya là một nữ diễn viên múa xuất chúng của nửa sau thế kỷ XX, người đã đi vào lịch sử ba lê với cuộc đời sáng tạo dài hơi của mình. Maia Mikhailovna Plisetskaya sinh ngày 20 tháng 11 năm 1925 ở Mat xcơva. Người cha - Mikhail Emmanuilovich P. đã từng là tổng lãnh sự ở Spitbergen, sau đó bị bắt và bị xử bắn. Người mẹ là Rakhil Mikhailovna Messerer-Plisetskaya, một diễn viên phim câm, cũng bị bắt một năm sau chồng và bị giam ở nhà tù Butưrskaya cùng với cậu con trai út. Sau đó bà bị gửi đến Kazakhtan, và mãu tớ năm 1941 mới quay lại được Matx cơva, trước chiến tranh khoảng hai tháng. Người dì và cậu của Maia, Sulamiph và Asaph Messerer, các diễn viên ba lê có tiếng của Nhà hát Lớn đã đem cô bé Maia và một người em khác về nuôi.

“Don Kihote”
Tháng 6 năm 1934 Maia thi vào Trường Múa Mat xcơva, và ở đây đã lần lượt học dưới sự hướng dẫn của các giảng viên E.I.Đôlinskaya, E.P.Gerdt, M.M.Leonchieva. Nhưng cả đời mình Maia vẫn coi Aggrippina Yakovlevna Vaganova là người thầy tốt nhất của mình, người mà Maia gặp sau khi đã được nhận vào Nhà hát Lớn hồi tháng tư năm 1943.
Mặc dù Maia đã bắt đầu sự nghiệp sôlô, nhưng trong Nhà hát Lớn người ta vẫn đưa Maia vào corps de ballet. Tuy nhiên dần dần Maia đã nhận được những vai diễn thú vị. Maia đã trở thành nữ diễn viên ba lê đầu tiên sắm vai Maia tiên Mùa Thu trong “Lọ Lem” của S.S.Procophev, rồi đóng vai chính trong vở “Raimonda” của A.K.Glazunov, và vai diễn ấy của Maia đã cho thấy rất rõ rằng ở Nhà hát Lớn xuất hiện thêm một ứng cử viên mới cho danh hiệu prima-ballerina (nữ diễn viên ba lê số 1 của nhà hát).

“Karmen”
Ngày 27/4/1947 Maia Plisetskaya lần đầu tiên múa vai Odetta-Odillia trong vở “Hồ thiên nga”, và vở ba lê này của Traikovsky đã trở thành một trong những vở ba lê chính trong cuộc đời sáng tạo nghệ thuật của Maia. Và năm 1948 Maia đóng vai Zarema trong “Đài phun nước Bakhtrixarai”. Trong vở diễn này thì một đặc điểm của tài năng độc đáo của Maia được bộc lộ - khả năng trong cú nhảy ba lê giữ trong không trung vài khoảnh khắc. Maia Plisetskaya đã được tham dự vào cả ba lần dàn dựng vở ba lê “Spartak” của A.I.Khatraturian tại sân khấu Nhà hát Lớn. Năm 1958 trong phương án của I.A.Moiseev thì Maia đóng vai Egina, năm 1962 trong phương án dàn dựng của L.V.Yakovson thì Maia múa vai Frigia, và năm 1971 trong dàn dựng của Yu.N.Grigrovich thì lại múa vai Egina. Vào những năm 60 thì Maia Plisetskaya đã chính thức trở thành nữ diễn viên ba lê số 1 của Nhà hát Lớn. Maia đã tham gia múa trong rất nhiều vở ba lê, nhưng vẫn có cảm giác không hài lòng về nghệ thuật. Nàng không chỉ muốn múa ba lê cổ điển, mà còn muốn múa trong những dàn dựng mới dành riêng cho nàng. Và đến 20/4/1967 thì lần đầu tiên trên sân khấu Nhà hát Lớn đã dàn dựng vở “Carmen-suit” – một trong những vai múa chủ yếu của Maia trong kịch mục của Nhà hát Lớn. Vở ba lê này đã được chuyển thể sang điện ảnh (phim “Nữ diễn viên ba lê” năm 1969) và truyền hình (1978). Rồi sau đó là bộ phim “Anna Karenina”, trong đó Maia đã thể hiện xuất sắc vai nữ công tước Betcy, một vai diễn điện ảnh thuần túy của đầu tiên của Maia. Nhạc phim này do nhà soạn nhạc Rođion Sedrin, phu quân của Maia Plisetskaya viết. Và tới năm 1971, thì Rođion Sedrin đã viết một vở ba lê theo tiểu thuyết này của L.N.Tolstoi. Vở ba lê này đã được trình diễn lần đầu tiên trên sân khấu Nhà hát Lớn ngày 10/6/1972, trong đó Maia Plisetskaya không chỉ múa vai chính mà còn thử sức trong cương vị biên đạo múa. Và ngày 27 tháng 5 năm 1980 trên sân khấu Nhà hát Lớn trình diễn lần đầu tiên vở ba lê “Hải âu” của R. Tsedrin do Maia Plisetskaya dàn dựng.

“Isadora”
Năm 1983 Maia Plisetskaya được đề nghị trở thành chỉ đạo nghệ thuật bộ phận ba lê ở Nhà hát nhạc vũ kịch Roma. Maia Plisetskaya đã giữ cương vị này trong vòng một năm rưỡi, tuy chỉ ghé Roma từng chuyến. Trong thời gian đó Maia đã dàn dựng ở đây vở ba lê “Raimonda”, cho sân khấu mở ở Term Karakalla, trình diễn vở bale “Isadora”, phục hồi lại vở “Fedra” và một số vở ba lê khác. Từ cuối năm 1987 đến 1990 thì Maia Plisetskaya làm việc chủ yếu ở Tây Ban Nha, chỉ đạo đoàn múa “Theatro Lyrico Nacional”. Maia Plisetskaya đã phục hồi lại dàn dựng vở ba lê “La Fille mal gardée” của P. Hertel (theo phương án dàn dựng của A.Gorsky) cho đoàn múa này, đưa vở “Carmen-suit” vào kịch mục của đoàn múa và tự mình đóng vai chính trong vở này. Theo sáng kiến của Montserrat Caballe Maia Plisetskaya đã tham gia dàn dựng vở “Vilis” một vở opera-ba lê của G.Puccini viết hồi trẻ, vở này đã được trình diễn tại Liên hoan Nghệ thuật ở Perelad. Lần đầu tiên Maia Plisetskaya đã trình diễn tiết mục múa “Cái chết con thiên nga” trên nền nhạc giọng hát – người “hát đệm” cho Maia Plisetskaya là Montserrat Caballe. Rồi Maia Plisetskaya múa vai chính trong vở ba lê “Mary Stuart” (nhạc của E. de Diego), do chỉ đạo nghệ thuật của đoàn múa flamenco Hose Granero dàn dựng riêng cho Maia (năm 1988).

Maya Plisetskaya và Rodion Sedrin
Ngày 4 tháng giêng năm 1990, Maia Plisetskaya múa vở diễn cuối cùng của mình ở Nhà hát Lớn – vở “Người đàn bà với con chó nhỏ”. Những mâu thuẫn, bất đồng trong với lãnh đạo đoàn ba lê đã khiến Maia Plisetskaya phải rời khỏi Nhà hát Lớn. Tới năm 1991 thì các hoạt động soạn nhạc và xuất bản của Rodion Shedrin tập trung ở Munchen, do đó chẳng bao lâu sau thì họ tới sống ở thành phố này, và như vậy là sống ở cả ba nơi: phần lớn ở Munchen, nhưng còn sống cả ở Matxcơva và Litva nữa.
Tháng 8 năm 1994 tại Saint-Peterburg trên sân khấu Nhà hát Aleksandrinsky đã diễn ra cuộc thi ba lê quốc tế “Maia”, trong đó Maia là chủ tịch giám khảo

Cái chết con thiên nga
Maia Plisetskaya đã đóng trong phim âm nhạc “Các nghệ nhân ba lê Nga” (1953), phim ba lê “Hồ thiên nga (1957), “Truyện cổ tích về chú ngựa gù” (1961), “Anna Karenina” (1975), trong phim-opera “Hovanshina” (1959), trong chuyển thể điện ảnh – truyền hình của các vở ba lê “Bolero” và “Isadora” (“Thi ca của vũ điệu”, 1977), “Hải âu” (1982), “Người đàn bà với con chó nhỏ”(1986). Năm 1976 A.V.Efros quay bộ phim truyền hình “Fantasia” dựa theo truyện vừa của I.S.Turghenhev “Nước mùa xuân”, trong đó Maia Plisetskaya đóng vai Polozova. Maia Plisetskaya cũng đóng trong các phim điện ảnh “Anna Karenina” của đạo diễn A.G.Zarkhi (1968), “Traikovsky” của I.V.Talankin (1970, trong vai ca sĩ Desire, “Zodiac” của I.Vaitkus (1985, trong vai nàng thơ của M.K.Triurlionis).

Bìa sách “Tôi, Maia Plisetskaya…”
Đã có rất nhiều phim tài liệu về Maia Plisetskaya, trong đó “Maia Plisetskaya” của V.A.Katanhan (1964, bản mới 1981), “Maia Plisetskaya. Quen thuộc và chưa biết” của B.D.Galanter (1987), “Maia” của M.Sakagusi (năm 2000, cho TV Nhật Bản), “Maia Plisetskaya” của D.Delus (năm 2000, cho TV Pháp) “Maia Plisetskaya assoluta” của E.Kapnist (2002, cho TV Pháp).
Hoạt động nghệ thuật của Maia Plisetskaya được phản ánh trong cuốn sách “Maia Plisetskaya” của N.P.Roslavleva, nhiều tập ảnh cùng tên. Năm 1994 Nhà xuất bản “Novosty” đã phát hành cuốn sách-tự truyện của nữ nghệ sĩ mang tên “Tôi, Maia Plisetskaya”. Quyển sách này đã được xuất bản nhiều lần ở Nga và đã được dịch ra 11 thứ tiếng.
Maia Mikhailovna Plisetskaya được phong danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân Liên xô(1959), Anh hùng lao động XHCN (1985). Plisetskaya vinh dự 3 lần được nhận huân chương Lênin (1967, 1976, 1985), huân chương Bắc đẩu bội tinh của Pháp (1984), huân chương “Phụng sự Tổ quốc” hạng 3(1995) và hạng 2 (2000). Tháng 7 năm 1991 vua Tây Ban Nha Juan Carlos đã trao tặng Maia Plisetskaya huy chương cao quý nhất của Tây Ban Nha – “Huy chương Isabella Thiên chúa”. Maia Plisetskaya cũng được trao danh hiệu “Công dân danh dự Tây Ban Nha”. Trong vô số các giải thưởng của Maia Plisetskaya còn có giải thưởng của thị trưởng Paris trao hành năm cho người phụ nữ thanh lịch nhất năm (1986), giải thưởng “Tự hào dân tộc Nga” (2003), vv. Bà còn là tiến sĩ đại học Sorbon - Pháp (1985) và giáo sư danh dự Trường đại học tổng hợp quốc gia MGU (1993).
Năm 1994 Viện Thiên văn lý thuyết đã đặt tên Maia Plisetskaya cho tiểu hành tinh số 4626.
Trong bài này sử dụng tư liệu của RIA Novosti và ảnh của các trang web:
www.ballerinagallery.com
www.balletbookstore.com
www.ezhe.ru
www.rg.ru
www.shchedrin.de