Ngày 6 tháng Sáu 1944
Mặc dù tôi vẫn còn yếu mệt. nhưng sáng sớm hôm nay tôi vẫn quyết định đi xem triển lãm " Cuộc chiến đấu bảo vệ anh hùng của thành phố Lê-nin-grát". Tôi không thể không đi xem cuộc triển lãm này trước khi đi Mát-xcơ-va.
Tôi và nhà tôi cùng đi xe điện đến con mương Lê-bê-gi rồi từ đó dọc theo bờ mương yên tĩnh và đầy ánh nắng đến thành Xa-li-a-nư, nơi trưng bầy triển lãm. thờitiết thật là tuyệt: đúng là một ngày đầu tiên ấm áp nhất trong những ngày gần đây. Khó mà bỏ bãi cỏ xanh đầy ánh nắng ấm để bước vào ngôi nhà lạnh, rộng thênh thang. Ở cổng ra vào mỗi một cỗ trọng pháo chiến lợi phẩm đều có một em bé Lê-nin-grát ngồi lên trên.
Triển lãm lớn quá, tôi không thể đi hết cả khu được. Ở tầng dưới nhà chúng tôi không xuống. Nhưng những gian trung ương thì chúng tôi xem rất tỉ mỉ.
Tôi và nhà tôi rất ít nói: Một cái gật đầu, một dáng điệu, một câu nói ngắn và… đã hiểu nhau. Hầu như cuộc sống của cả ba năm đều bầy ra trước mắt chúng tôi.
Ở đây tập trung tất cả những gì đã đe doạ Lê-nin-grát và những gì đã cứu nó. Trong thời gian phòng chính, dưới chân tường là một đống mũ của bon giặc lại máy bay Đức xếp thành hình tam giác cao đến tận trần nhà như một quả núi. Ở giữa phòng có một khẩu pháo hạng nặng của giặc Đức đã bắn vào các " mục tiêu quân sự" của Lê-nin-grát, trong đó có bệnh viện của chúng tôi ( mục tiêu số 89). Khẩu pháo 154 ly lòng pháo rộng cái ống khói đầu máy xe lửa. Súng cối sáu nòng. Xe tăng " con hổ" " con báo" " Phéc-đi-nân"… sơn màu cẩm thạch , màu xanh, trắng, chiếc máy bay bị bắn rơi có chữ thập ngoặc màu đen trên cánh. Bom đạn đr các cỡ. Thuỷ lôi từ trường mà giặc Đức ném xuống cảng Ban-tích của chúng ta, nhưng may nó lại không nổ.
Chúng tôi cũng bắt gặp ở đây quả bom ném xuống khu phố chúng tôi vào cái ngày thu vàng năm 1941. Bên dưới quả bom viết: : nặng một nghìn ki-lô-gam, đường kính sáu trăm sáu mươi mi-li-mét. Tháng Mười năm 1941, đại uý công trình sư Lô-pa-tin và đội trưởng dân quân I-lin-xki tháo".
Quả bom giữ được nguyên vẹn-chỉ thiếu có cái chốt an toàn, bây giờ nó đang nằm trong ngăn kéo bàn ở nhà tôi.
Một bức tranh: Đêm mồng 5 tháng Mười, lần đầu tiên trong lịch sử hàng không, chiến sĩ lái máy bay trẻ tuôi Xê-vo-xti-a-nốp trong trận đánh đêm đã đâm thẳng vào máy bay địch. Hạ nó xong, anh nhảy dù xuống.
Trong một gian khác là khẩu pháo mang từ chiến hạm " cách mạng tháng Mười" về, chiếm cả chiều dài của gian phòng. Bên cạnh một chiếc tàu ngư lôi, treo cao ở trên không như đang bay trên sóng, những chiến công thương tích đầy mình là điều kỳ diệu của dũng cảm.
( Ngày 19 tháng 9 1941 đúng là hôm chúng tôi đến Ra-dơ-iê-gia a sau khi bom rơi được mấy phút) là một trong những ngày đẫm máu nhất trong thời kỳ bị bao vây. Hôm đó báo động sáu lần, tính chung là bẩy giờ ba mươi phút.
Quân địch ném xuống 528 quả bom phá
1.430 quả bom na-pan
Băn 97 đạn pháo vào thành phố
Có 89 đám cháy
Đã góp vào việc cứu chữa có: 3.912 đội phòng không thành phố, 52 đội công tác địa phương, 17 đội cứu thương của Hội chữ thập đỏ, 21 đội tự vệ thành phố.
Có gian trưng bày công nghiệp Lê-nin-grát. Tất cả công nghiệp đều dốc hết cho tuyền tuyến. Nhữ, Ba-cu, Bơ-ri-an, Xta-li-nô-gor-xcơ, về Đôn-bat, Ma-kê-ép-na, Goóc-lốp-ca, Ca-đi-ép-ca.
Nhà máy thuốc lá sản xuất thuốc điếu "Liên hoan", " Gió tây", "Bắc Pa-mia" v.v…xưởng nước hoa, xưởng làm sữa trong thời kỳ bị phong toả đều phục vụ công cuộc phòng thủ. Và bây giờ chúng tôi lại thấy tỏng những tủ kính những lọ nước hoa "Đêm trắng", những chai sữa chua, nhưng không phải chế bằng sữa mà bằng đậu nành.
Gian trưng bày thực phẩm: Những thực phẩm và món ăn của các nhà ăn công cộng Lê-nin-grát vào những ngày bị bao vây:
-Bánh bột, viên an-buy-min-làm món ăn thứ nhất
-Bột nhân tạo, bột cây gai làm các thứ bánh-món ăn thứ hai
-Bột xen-luy-lô để làm bánh
-Bì lợn để nấu xúp, làm thịt đông, chả băm.
Trên một ngăn tủ bày các loại đèn trong thời kỳ bị phong toả ở Lê-nin-grát: đèn xách (đèn con dơi-đèn Hoa-kỳ) đèn đất, đèn bão, đèn ống thực nghiệm, đèn đồ hộp, nến…
Tôi và nhà tôi nhìn nhau và nhớ lại những ngọn nến đáng ghét không biết làm bằng thứ gì, bấc nến không nằm ở giữa mà lệch xiên, lệch xẹo, thò cả ra một bên, chỉ cháy phùn phụt rồi tắt ngay.
Trước cái tủ kính bày như một hàng bán bánh mỳ, chúng tôi dừng lại rất lâu. Đây là một cái cửa sổ, trên kính cửa sổ có băng đóng rất chặt, hai ngọn bấc nhỏ làm băng tan đi một ít ở giữa.
Trên một chiếc cân, trong cái đĩa bên này đặt bốn quả cân, đĩa cân bên kia là 125 gam bánh bao. Đó là khẩu phần hàng ngày của những người Lê-nin-grát trong thời gian từ 20 tháng Mười một đến 25 tháng Mười hai năm 1941.
Trong một cái lọ thuỷ tinh dựng bột mì hồi đó, thành phần như sau:
Bột xấu 50 phần trăm
Muối xấu 10 phần trăm
Dầu mỡ xấu 10 phâầntrăm
Bột cây ( xen-luy-lô) 15 phân ftrăm
Bột đậu, buị bặm… 5 phần trăm.
Xem triển lãm xong, nhà tôi vào trong thành có việc. Tôi ngồi trên ghế dài ở vườn mùa hè.
Vườn hoa rất đẹp, xanh và đầy hương sắc. Trên những con đường nhỏ các em bé chơi dưới những vòm cây xanh. Những vệt nắng rơi trên tượng Cơ-rư-lốp được dỡ đi cái bọc gỗ bên ngoài.
Ánh nắng ấm áp, tĩnh mịch, tiếng rì rào của lá rất dịu dàng… Tôi ngồi ở đó như đi vào cõi mộng.
Có một chị ngồi cùng ghế với tôi, chị mệt mỏi và xanh xao, thở hổn hển. Đó là sự xanh xao của thời kỳ bị phong toả. Tôi nghĩ đến năm mươi phần trăm bột mì xấu…
Chị vừa thở vừa nói với tôi là bây giờ chị đã khá hơn trước nhiều, chị đi lại không cần phải người đỡ nữa và chị hỏi: Có thật là đã mở " mặt trận thứ hai" không? Tin này chị vừa nghe trên tàu điện.
Tôi thì lại chẳng biết gì. Chúng tôi ra đi từ sáng. Đài của chúng tôi lại bị hỏng.
Tôi vội vàng về nhà. Và tôi biết tin vừa rồi là đúng. Quân đồng minh đã đổ bộ lên miền Bắc nước Pháp.
|