Ðề tài: Nhật ký Leningrad
View Single Post
  #13  
Cũ 09-11-2010, 11:53
nthach nthach is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 2,631
Cảm ơn: 1,404
Được cảm ơn 4,719 lần trong 1,656 bài đăng
Default

Ngày 29 tháng Năm 1944

Bây giờ tôi mới biết rõ về cỏ đi-gi-ta-lis (cây thuốc trừ bệnh đau tim) mà giáo sư Môn-tê-ver-đe trồng ở Lê-nin-grát. Loại cỏ đi-gi-ta-lis chỉ mọc ở han-xe và Tua-rin-ghi.
Để khỏi phải dùng ngoại tệ mua nó. Chúng ta trồng nó ở Bắc Cáp-ca-dơ và ở Bi-ê-lô-rút-xi. Nhưng vì chiến tranh, việc đó bị dừng lại. Cái bi kịch của cây đi-gi-ta-lis ở chỗ là nó không thể để lâu được. Mùa xuân năm 1942 những loại đi-gi-ta-lis sống ở Lê-nin-grát đã mất hết dược tính của chúng. Thế là Sở Y tế thành phố phải ra thông tư cho các trạm dược liệu không dùng chúng để chữa bệnh.
Nhưng rồi phải làm thế nào? bệnh đâu tim không để yên. Nhất là thời kỳ bị bao vây, bệnh càng nặng rất cần đến thuốc. Lúc đó học viện thực vật nhận được đề nghị của Xô-viết thành phố Lê-nin-grát, yêu cầu họ trồng lấy cỏ đi-gi-ta-lis, chuẩn bị đến mùa thu thì có thuốc để dùng.
Lúc đó ngay giáo sư Môn-te-ver-de, chủ nhiệm các loại cây làm thuốc này lại nằm ở khu bệnh nặng của bệnh viện chúng tôi, trong khoa của giáo sư Tu-san-xki.
Vừa khỏi bệnh ông liền bắt tay ngay vào công việc. Trong "hồ sơ" của vườn Bách thảo, người ta tìm thấy một ít loại giống cần thiết nhưng không biết chúng có nảy mầm tốt không. Mà điều chủ yếu là không đủ thời gian để trồng loại cây lâu năm nữa ( chỉ cần chất thuốc của nó). Phải bắt loại cây một năm cũng có chất thuốc như cây nhiều năm. Lúc bắt đầu, hạt giống trồng trong nhà kính, sau đó ra vườn, rồi sau nữa đưa ra trồng đất ngoài trời. Bắt đầu đấu tranh để có đất trồng, đất trồng được rất ít, mà đường kính của lá cỏ này lại rộng đến sáu mươi phân.
Để cho đỡ tốn đất và chóng thu hoạch, giáo sư Môn-te-ver-de và các dồng nghiệp của ông nêu sáng kiến: Cứ liên tục thu lá già của nó. Lúc đầu hái những chiếc lá ở xung quanh, thế là lá ở giữa chóng lớn to hơn. Lá mọng nhiều nước và cần phải sấy khô. Người ta phơi chúng trong căn nhà trống, treo trên dây như phơi quần áo. Sau đó học viện dược liệu mới mang đến những cái máy sấy đặc biệt dùng vào việc này.
Cuối cùng đến mùa thu cỏ đi-gi-ta-lis đã có như dự định. Còn phải kiểm nghiệm lại được tính của chúng. Nhưng lấy ai mà thử. Thường thì người ta thử trên những ếch con. Nhưng nếu đến cả nòng nọc cũng không có thì ếch làm gì có.
Các bác sĩ quyết định thử thuốc trên thân thể của mình vậy. Kết quả là nó rất hiệu nghiệm đến nỗi phải bớt liều lượng đi.
Không chỉ Lê-nin-grát dùng loại thuốc quý giá này mà còn cung cấp cho cả các nơi ngoài vòng phong toả của địch nữa.
Khi gioá sư Môn-te-ver-de kể xong, tôi hỏi ông có thử thứ thuốc do ông trồng ra này vào người mình không? ông rất vui vẻ trả lời là đi-gi-ta-lis đã "giúp nhiều" cho ông ta, vì khi Uỷ ban hành chính thành phố đề nghị ông phụ trách việc này thì ông cảm thấy sức tăng lên và ra viện sớm hơn.
Síp-sin-xki nói với tôi là chăm nom vườn Bách thảo phức tạp hơn vườn Bách thú rất nhiều. Động vật có thể dùng tiếng kêu để bầy tỏ ước muốn của chúng, còn thực vật thì không biết nói. Nếu không đoán được ý muốn của chúng thì chúng chỉ chết dần đi mà thôi. Một điều lạ là vì độ ẩm của không khí mà các người làm vườn lại bị mất khứu giác. Họ không ngửi thấy hương của hoa, như Bê-thô-ven không nghe được nhạc.
Trước chiến tranh, để sưởi ấm khu nhà kính của khu vườn Bách thảo này, mỗi năm tiêu thụ hết hai nghìn tấn than. Trong thời kỳ bị bao vây có tới chín phần mười cây cối trong toàn bộ vườn bách thảo này bị chết vì lạnh. Những cây còn sống sót là một số cây để ở trong ngôi nhà kính nhỏ và một số cây được các cán bộ của vườn đem về nhà riêng chăm sóc. Ví dụ như cây xương rồng của Cu-rơ-na-cốp chẳng hạn. Cây tôn trục có lá dầy và mẫm là loại cây chịu rét giỏi nhất.
Khi biết chiến tranh làm cho vườn bách thảo bị tổn thất đến một triệi hai mươi vạn đồng rúp vàng. Tôi hỏi dùng cách nào mà tính được con số như thế. Chẳng lẽ lại tính giá tiền từng cây một hay sao? Còn công lao bỏ vào đó?
Thì ra tất cả đều tính theo một phương pháp hoàn toàn khác
Một tiệu hai mươi vạn rúp tiền vàng-đó là chi phí cần thiết cho năm lượt đi vòng quanh thế giới để có thể làm cho vườn Bách thảo trở lại như trước chiến tranh.
Những chuyến đi cần thiết đó là:
1. đến vùng nhiệt đới Nam châu Mỹ
2. đến Tây câu Phi ( Công-gô thuộc Bỉ)
3. Đến vùng Ấn-độ dương: Ma-đa-gát-xca, Tích-lan ( Cô-lông-bô) Ấn-độ, Xanh-ga-pua, vườn bách thảo Bun-do trên đảo Gia va.
4. đến miền dông Châu Úc-cả Tân-tây-lan và Ta-xma-ni-a.
5. Đến miền Đông nam Trung-quốc
Những nơi trên đây là vùng trung tâm căn bản của thực vật, cái nôi của thực vật. Còn nước ta tuy rất rộng lớn, song nó chỉ có chiều kinh độ là dài thôi, mà đối với thực vật thì lại cần vĩ độ rộng.
Mang những cây đã lớn đến một vùng có khí hậu khác không phải là chuyện giản đơn. Trước hết phải gây nhưữngloại thực vật này ở ngay quê hương của nó đã, nghĩa là đem trồng nó vào trong cái thùng hay cái chậu, làm cho nó hoàn toàn quen với loại đất mới này rồi sau đó mới đem nó đi xa sang một nước khác được.
Môn-te-ver-đe và Síp-sin-xki lúc từ giã đã tặng tôi ba cây đi-gi-ta-lis và một chậu hải đường mùa thu. Và tôi nghĩ mãi đến vườn bách thảo. Nó đã đi qua suốt cuộc đời của tôi ở Lê-nin-grát " bằng một sợi dây xanh". Nó chào đón tôi táng Tám năm 1941 và đến tháng Năm năm 1944 nó từ biệt tôi. Có rất nhiều điểm trên kinh tuyến Pun-cốp-xki đã đi qua màu xanh của vườn bách thảo.
Tôi nhìn quả địa cầu của mình ở trên bàn, nhìn thấy những đại dương và đại lục còn đang nhuốm máu và nghĩ đến khi chiến tranh kết thúc sẽ có thể bắt đầu cuộc chu du năm lần vòng quanh thế gới . " Vườn bách thảo Bun-de trên đảo Gia-va". Chỉ một cái tên gọi ấy đã đáng giá biết bao nhiều rồi !
Cả trái đất đầy những vườn hoa hiện ra trước mắt tôi ( Bề mặt lá cây trải ra vô tận). Và trên maảnhđất này những thế hệ sáng tươi, hoà bình mà đất nước chúng tôi đã làm rất nhiều vì hạnh phúc của họ. Và trong đó có phần của Lê-nin-grát.
Trả lời kèm theo trích dẫn