Hôm thứ bẩy 23/10/2010 mình đi viếng các vua Hùng ở đền Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh xã Hy Cương, huyện Lâm Thao, Phú Thọ. Đền thờ các vua Hùng thì các bạn, nhất là các bạn ở miền Bắc chắc ai cũng đã ít nhất 1 lần đến viếng rồi. Mình post một số ảnh mình chụp hôm đó nhé.
Tam quan lên đền Hùng xây dựng vào đời Khải Định (1817) có đại tự “Cao sơn cảnh hành” nghĩa là Núi cao đường lớn.
Câu đối ở 2 trụ chính:
Thác thủy khai cơ, tứ cố sơn hà quy bản tịch
Đăng cao vọng viễn, quần phong la liệt tự nhi tôn
Nghĩa là:
Mở lối đắp nền, bốn mặt non sông quy một mối
Lên cao nhìn rộng, nghìn trùng đồi núi tựa đàn con
Đi qua 250 bậc đá sẽ lên đến đền Hạ
Nhà bia của đền Hạ
Đền Hạ được xây dựng vào thế kỷ XVII-XVIII. Kiến trúc kiểu chữ nhị gồm Tiền bái và Hậu cung cách nhau qua sân thiên tỉnh. Kiến trúc đền Hạ đơn sơ, mái lợp ngói mũi hài.
Tương truyền rằng nơi đây Quốc Mẫu Âu Cơ sinh ra bọc trăm trứng, sau nở thành trăm người con trai, nguồn gốc của cộng đồng người Việt, từ đó khởi nguồn cách gọi “đồng bào” nghĩa là “cùng bọc”. Khi các con khôn lớn Quốc Tổ Lạc Long Quân mang theo 50 người con về vùng biển quai đê lấn biển, mở mang bờ cõi. Quốc Mẫu Âu Cơ mang theo 49 người con ngược lên vùng núi, trồng dâu, chăn tằm, dệt vải, xây dựng cuộc sống. Người con trưởng ở lại làm Vua ở đất Phong Châu, đặt tên nước là Văn Lang, cha truyền con nối 18 đời đều gọi là Hùng Vương.
Đến trước mỗi ban thờ mình đều xin phép các cụ từ (thủ tự) của đền (hoặc nhân viên BQL khu di tích đứng ở đấy) xem có được phép chụp ảnh không thì các vị đều vui vẻ nói là chụp ảnh được.
Phía bên trái của đền Hạ là chùa Thiên Quang. Chùa được xây dựng vào thời Trần có tên gọi là "Viễn Sơn cổ tự" thời Hậu Lê (1427 - 1573) đổi thành “Thiên Quang thiền tự”, thời Nguyễn chùa được đại trùng tu. Đến nay chùa cũng được tu bổ nhiều lần.
Tam quan gác chuông của chùa Thiên Quang xây dựng vào thời Hậu Lê có thang lên sàn gỗ ngắm cảnh và gác chuông treo chuông thời Hậu Lê. Trong tam quan có ba cái bia, một bia nói về một cụ bà ở thế kỷ XX đã cung tiến 1000 đồng Đông Dương để xây các bậc đất thành bậc ximăng lên núi Hùng cho dễ đi. (Hiện nay tất cả các bậc ximăng ở núi Nghĩa Lĩnh đã thay bằng bậc đá hết rồi).
Tam quan gác chuông của chùa nhìn từ phía trong sân chùa.
Chùa Thiên Quang thiền tự. Phía trước ngay sát bậc lên xuống cửa chùa có cây Thiên Tuế hơn 800 tuổi. Cây Thiên Tuế có 3 ngọn, lá cây vẫn xanh tốt, thân cây hơi nghiêng nên khu di tích đã làm cột chống bằng thép để giữ cây không bị đổ.
Đi hết 170 bậc đá sẽ lên đến đền Trung có tên gọi là “Hùng Vương tổ miếu” (Miếu thờ tổ Hùng Vương). Đền Trung được xây dựng vào thế kỷ XIV thời nhà Trần, đến thế kỷ XV thời nhà Lê, đền bị giặc phương Bắc tàn phá, đến thời nhà Nguyễn đền được xây dựng lại. Năm 2009 đền được Nhà nước ta xây dựng lại như hiện nay. Đền Trung thờ 18 đời vua Hùng, tương truyền đây là nơi vua Hùng thường họp bàn việc nước. Tại đây vua Hùng thứ sáu đã truyền ngôi cho hoàng tử Lang Liêu là con trai út - người sáng tạo ra bánh chưng, bánh giầy.
Đi tiếp 110 bậc đá sẽ lên đến đền Thượng có tên gọi là “Kính Thiên Linh điện” (Điện thờ trời trên núi Nghĩa Lĩnh). Đền Thượng được xây dựng vào thế kỷ XV. Đền được đại trùng tu từ năm 1914 - 1922 thời Khải Định. Đền Thượng tương truyền là nơi các Vua Hùng tế trời đất, thờ thần núi, thần lúa, cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi để muôn dân ấm no, hạnh phúc.
Trong đền Thượng có các Ngai thờ Ất Sơn thánh vương thánh vị, Đột Ngột Cao Sơn cổ việt Hùng thị thập bát thế thánh vương thánh vị, Viễn Sơn thánh vương thánh vị.
Ngoài cổng đền có đại tự “Nam Việt triệu tổ” (Tổ muôn đời của nước Việt Nam).
Hoành phi Nam quốc sơn hà
Đôi câu đối:
Hồng Lạc cố cơ tồn điệp chướng tầng loan quần thủy hợp.
Đế Vương linh khí tại, hào phong nộ vũ nhất sơn cao.
Nghĩa là:
Cung cũ Hồng Lạc còn đây, trùng điệp núi đồi, nhiều dòng sông hợp lại
Khí thiêng Đế Vương vẫn đó, thét gào mưa gió một ngọn núi đứng cao.
Hoành phi ở giữa “Triệu cơ vương tích” (Vết tích vua trên nền đầu tiên) hoành phi bên phải “Quyết sơ sinh dân” (Dân buổi ban đầu) trong ảnh chỉ chụp đến chữ “sinh dân”. Hoành phi bên trái “Tử tôn bảo chi” (Con cháu phải giữ gìn lấy) trong ảnh chỉ chụp đến chữ “tử tôn bảo”.
Bên phía đông đền Thượng, đi xuống một tý là đến “Hùng Vương lăng” (lăng Hùng Vương). Tương truyền Lăng là mộ vua Hùng thứ VI, trước khi chết Vua dặn “hãy chôn ta trên núi Cả (Nghĩa Lĩnh) để đứng trên núi cao ta còn trông nom bờ cõi cho con cháu”. Xưa chỉ là mộ đất, đến thời Tự Đức năm thứ 27 (1870) cho xây Lăng Mộ, thời Khải Định năm thứ 2 (1922) được đại trùng tu như hiện nay. Lăng Hùng Vương là nơi các thế hệ con cháu Lạc Hồng kính cẩn nghiêng mình tưởng nhớ công ơn dựng nước.
Vòng hoa trong lăng mang dòng chữ “đời đời nhớ ơn các vua Hùng đã có công dựng nước”.
Đôi câu đối ở trước lăng:
Lăng tẩm tự năm nào, núi Tản sông Đà non nước vẫn quay về Đất Tổ.
Văn minh đương buổi mới, con Hồng cháu Lạc giống nòi còn biết nhớ Mộ Ông.
Từ đền Thượng đi theo một lối khác xuống đền Giếng, trên đường xuống sẽ đi qua giếng cổ (giếng Rồng). Tương truyền rằng sau khi sinh, Quốc Mẫu Âu Cơ dùng nước giếng Rồng tắm cho các con. Năm 2002, các nhà khoa học đã tiến hành khai quật tại khu vực lòng giếng cổ và đã phát hiện những dấu tích văn hóa của các thời kỳ Lý, Trần, Lê, Nguyễn.
Xuống đến chân núi Nghĩa Lĩnh là đến đền Giếng tên chữ là Ngọc Tỉnh. Tương truyền giếng Ngọc là nơi hai nàng công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa con gái Vua Hùng thứ 18 thường soi gương chải tóc, uống nước khi theo cha đi kinh lý qua đây. Hai nàng là người có công dạy dân trồng lúa, trị thủy nên được nhân dân lập đền thờ.
Đền Giếng được xây dựng vào thế kỷ thứ XVIII, đền trùm lên trên giếng. Giếng Ngọc ở bên trong hậu cung của đền hình tròn, bốn mùa nước giếng trong, mát, không bao giờ cạn.
Ngày 19/9/1954 Bác Hồ nói chuyện với cán bộ và chiến sỹ sư đoàn 308 (Đại Đoàn quân tiên phong) trước khi về tiếp quản Thủ đô tại đền Giếng, Bác Hồ đã căn dặn: "Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước".
Rất tiếc là hôm mình đến thì trước cửa đền Giếng sừng sững một cái nhà bằng tôn, mọi người đang khênh ban thờ và thu dọn các đồ thờ chắc chuẩn bị tu bổ gì đó. Cuống cuồng chạy vào cũng không kịp nên mình không chụp ảnh nữa.

Mình đến viếng đền Hùng lần này là lần thứ 9 rồi, các đền hiện nay nhìn cứ trắng phau, tu bổ như mới xây, nhìn mới quá nhưng mình lại nghĩ là 20 năm nữa cháu, chắt mình lên sẽ thấy các đền đẹp và cổ kính.
Từ đền Giếng cũng có lối lên đền Hạ đi qua 50 bậc đá. Khu vực phía trước cổng đền Giếng ra ngoài có mấy ao sen, rặng cây Ban đỏ ra hoa, nhiều cây cảnh... rất đẹp.
Đây là lúc ngồi nghỉ mình chụp ngang Cổng tam quan đền Giếng và ao sen mùa này đã tàn.
Bức phù điêu hoành tráng có hình tượng Bác Hồ nói chuyện với Đại đoàn quân tiên phong (sư đoàn 308) ngày 19/9/1954 với câu nói: “các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước" được đặt ở lối vào Đền Giếng. Bức phù điêu được Bộ Quốc phòng xây dựng năm 2001. Bức phù điêu hoành tráng này được ghép từ 81 khối đá xanh, đặt trong một khuôn viên trên 4000 m2.