View Single Post
  #5  
Cũ 20-10-2010, 17:09
Vania Vania is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Jul 2009
Bài viết: 2,369
Cảm ơn: 938
Được cảm ơn 708 lần trong 478 bài đăng
Default

Tào Thực (曹植, 192 - 232) tự là Tử Kiến, sinh ở Tiêu quận, nước Bái, là con trai thứ ba của Tào Tháo, em của Tào Phi, khi mất có tên thụy là Tư, nên còn được gọi là Trần Tư Vương. Ông là một nhà thơ nổi bật nhất trong số các văn nhân thời đại Kiến An.

Khi Tào Tháo xây xong Đồng Tước đài thì Tào Thực chỉ khoảng 10 tuổi. Vậy mà, lúc mới biết cha bảo các con làm thi phú tán tụng, ông đã làm xong bài phú "Đồng Tước đài", khiến cha vừa mừng rỡ vừa kinh ngạc, và Tào Phi bắt đầu ganh tị với ông từ đó. Ban đầu, Tào Tháo đã định lập ông làm Thế tử, song vì bản tính phóng túng, không chịu phục tùng ai mà lại còn bị Tào Phi đố kị, xúc xiểm, nên ông không được cha tin tưởng. Đau lòng nhất - theo Dịch Quân Tả (một học giả Trung Quốc) - Tào Thực thương một người con gái đẹp là Chân thị mà Tào Tháo có ý muốn tự nạp, về sau lại cưới cho Tào Phi. Khi nàng mất, Tào Thực mộng thấy gặp lại Chân thị bên bờ sông Lạc Thủy, và nàng đã tặng ông một chiếc gối. Khi tỉnh giấc, thiên tình sử ấy được Tào Thực tả lâm ly trong bài "Cảm Chân phú".

Năm 220, Tào Tháo mất, Tào Phi được thừa kế địa vị của cha, và đã ép Hán Hiến Đế thoái vị rồi tự xưng là Ngụy đế. Tào Phi và con là Tào Tuấn tìm đủ mọi cách bức hại Tào Thực, như : giết mất "cánh tay" của Tào Thực là Đinh Nghi, Đinh Dực, chỉ phong cho ông tước hầu (Bình Nguyên hầu) và ép phải rời kinh đô... Về sau, tuy được mang tước vương (Trần vương), nhưng trong khoảng thời gian hơn mười năm dài, ông bị thuyên chuyển sáu lần và cuộc sống chẳng khác gì người tù bị giam lỏng. Cũng theo Dịch Quân Tả, thì : Tội nghiệp Tào Thực phải chạy ngược chạy xuôi, lo buồn tiều tụy, không có được một ngày yên tĩnh nghỉ ngơi, và ông chết trong sự uất hận đó khi tuổi vừa 40.


Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.


Tào Thực mất có để lại "Trần Tư Vương tập", gồm khoảng 80 bài thơ ; hơn 40 bài từ, phú, tản văn và có thể chia làm hai thời kỳ :

- Buổi đầu, thơ Tào Thực thể hiện chí khí tiến thủ, khát vọng lập công như : Đông chinh phú (Bài phú chinh phạt phía Đông, tức Đông Ngô), Chinh Thục luận (Luận về việc đánh nước Thục)...

- Ở thời kỳ sau, vì bị anh và cháu chèn ép, nên thơ ông có chuyển biến rõ rệt. Thơ trở nên u uất bi thương, như : Dã điền hoàng tước hành (Bài hành về con sẻ vàng ngoài đồng), Dao tước phú (Bài phú về loài chim cắt), Hu ta thiên (Thiên tự than thân), nhưng tiêu biểu nhất là bài Tặng Bạch Mã vương Bưu...

Tháng Năm (223), Tào Thực cùng Tào Bưu (cùng mẹ) và Tào Chương (khác mẹ) vào triều. Đến Lạc Dương, Tào Chương chết một cách ám muội. Trên đường về, hai anh em Tào Thực, Tào Bưu lại bị quan quân đi theo tìm cách hãm hại, không cho ở cùng một chỗ. Tào Thực phẫn uất viết bài thơ "Tặng Bạch Mã vương Bưu" trước khi chia tay. Bài thơ gồm bảy đoạn. Hai đoạn đầu nói lên sự vất vả dọc đường sau khi rời dòng Lạc Thủy và phần nào hé lộ nỗi niềm bi phẫn. Đoạn ba nói lên ý chính tức những điều ông quá bức xúc vì bị cắt chia tình cốt nhục và bị chèn ép về chính trị.

Trên càng xe quạ réo,
Đầy đường sói nhởn nhơ.
Nhặng làm lẫn đen trắng,
Nghe dèm thân hóa sơ.


Đoạn bốn tả cảnh thu buồn bã. Đoạn năm thuật lại cái chết của Tào Chương và nêu lên dự cảm về kết cục bi đát của những người thân còn lại. Đoạn sáu, mở đầu bằng những lời động viên Tào Bưu (Trượng phu chí bốn biển, Ngàn dặm cũng như gần) nhưng kết thúc vẫn là những vần thơ chứa chan đầy nước mắt. Đoạn cuối nói lên nỗi lòng lúc chia tay và dự đoán khả năng "li biệt mãi mãi". Nguyễn Khắc Phi nhận xét : Tuy chỉ đề cập đến những bất hạnh cá nhân, nhưng bài thơ cũng cho ta thấy một số mặt trong các mối quan hệ xã hội dưới thời phong kiến ở Trung Quốc, do đó nó vẫn có giá trị hiện thực nhất định. Bài này lời lẽ chân thành, hình tượng sinh động, tự sự kết hợp nhuần nhuyễn với trữ tình, tình hòa với cảnh...

Tuy nhiên, do hoàn cảnh sống mà ông cũng có được một số tác phẩm phản ánh được ít nhiều nỗi khổ của nhân dân trong cơn li loạn, nhất là nỗi đau đớn của những người phụ nữ bất hạnh, như Khuê tình (Tâm tình chốn phòng khuê), Khí phụ thi (Bài thơ về người vợ bị bỏ rơi), Thất ai thi (Bảy nỗi buồn than)... Giáo sư Nguyễn Khắc Phi đánh giá : Thơ Tào Thực có số lượng khá nhiều, nghệ thuật khá cao, ngôn từ điêu luyện, phong vị dân ca đậm đà, song nội dung không sâu sắc bằng những bài thơ tiêu biểu của một số thi nhân cùng thời, như Trần Lâm, Vương Xán và Thái Diễm... có một vị trí nhất định trong sự phát triển của lịch sử văn học Trung Quốc. Đó là tia hồi quang của một giai đoạn lịch sử đầy biến động khi những phe phái quân phiệt xâu xé nhau trên cái nền sụp đổ của triều Hán, gây cho nhân dân biết bao tai họa.

Ngoài ra, Tào Thực còn là một trong những người đầu tiên biết học tập dân ca một cách sáng tạo. Nhờ ông, thơ ngũ ngôn Trung Hoa đã phát triển đến độ thành thục. Bàn về quan niệm văn chương của Tào Thực và Tào Phi,học giả Nguyễn Hiến Lê viết : Tào Phi và Tào Thực, là hai anh em ruột mà tính tình và đời sống trái nhau hẳn. Tào Phi làm vua chỉ cho văn chương mới là sự nghiệp lớn, đáng lưu truyền lại thiên thu ; còn phú quý, công danh hễ chết là hết. Tào Thực, ngược lại, cho văn chương là nghề mọn mà sự lập công mới đáng trọng. Trong một lá thư gửi bạn, ông thố lộ nỗi lòng, đại ý nói : "Tôi tuy bạc đức, cũng gắng sức giúp nước, để ân huệ cho dân, chứ không muốn lấy công việc bút mực làm công lao, lấy từ phú làm hơn người !". Mặc dù cho văn chương là "nghề mọn", nhưng cũng theo Nguyễn Hiến Lê thì : Tào Thực xứng đáng là đệ nhất thi nhân trong hai đời Tần - Hán và là người mở đường cho lối thơ diễm lệ đời Lục Triều. Thơ của ông đặc sắc vì lời rất điêu luyện, có nhạc, có đối mà vẫn tự nhiên, đủ văn vẻ lẫn chất phác. Danh sĩ Tạ Linh Vận thời Đông Tấn cũng đã hết sức khen ngợi Tào Thực : Văn chương trong thiên hạ có cả thảy một thạch (tức 10 đấu), riêng Tử Kiến (Tào Thực) đã chiếm hết tám rồi !

Thay đổi nội dung bởi: Vania, 20-10-2010 thời gian gửi bài 17:24
Trả lời kèm theo trích dẫn