Tào Phi (曹丕, 187 – 226) tên tự Tử Hoàn, sinh ở Tiêu quận, nước Bái thuộc Dự châu, là con thứ hai của Tào Tháo và là anh của nhà thơ Tào Thực. Ông là nhà thơ, nhà phê bình văn học đầu tiên của Trung Quốc, cũng là vị vua sáng lập ra nhà Tào Ngụy.
Năm 211, Tào Phi giữ chức phó Thừa tướng nhà Hán. Năm 217, làm Thế tử nước Ngụy. Năm 220, Tào Tháo chết, ông kế nghiệp chức Thừa tướng nhà Hán và là Ngụy vương. Không bao lâu, tháng 10 năm 220, ông phế vua Hán Hiến Đế, tự xưng là Hoàng đế đầu tiên của nhà Ngụy (với miếu hiệu là Nguỵ Thế Tổ Văn Hoàng Đế, thường gọi tắt là Nguỵ Văn Đế). Và ông đã tiếp tục cuộc chiến của cha tranh hùng tranh bá với tập đoàn Thục Hán của Lưu Bị và Đông Ngô của Tôn Quyền, nhưng không thành công. Tào Phi ở ngôi sáu năm (220 – 226), sau khi mất được chôn ở Thủ Lăng. Trong thời gian ở ngôi, Tào Phi chỉ sử dụng một niên hiệu, đó là Hoàng Sơ.
Ngoài những nét chính trên, sử sách còn cho biết : Trong số anh em của mình, Tào Phi là người sắc xảo nhất. Thay vì dùi mài kinh sử hay thao luyện quân binh, Tào Phi thường có mặt trong triều với các quan chức để tranh thủ sự ủng hộ của các quan và tham gia vào việc quân sự cùng cha. Sau khi Tào Tháo đánh bại được cha con Viên Thiệu, Tào Phi đã chiếm vợ của Viên Hy (con trai Viên Thiệu) là nàng Chân Lạc. Sau này Chân thị sinh ra Tào Tuấn là người kế nghiệp Tào Phi, nhưng vẫn bị thất sủng. Khi Tào Phi lên ngôi Hoàng đế đã sủng ái Quách thị, về sau Chân thị bị ép phải tự vẫn. Tào Phi có nhiều điều đối xử và giám sát khắt khe với các anh em trong nhà. Nhiều nhà sử học cho rằng sở dĩ như vậy là do ông ghen tài văn chương với Tào Thực và tài quân sự với Tào Chương. Tào Phi còn khiến tướng Vu Cấm phải xấu hổ mà chết. Chuyện là Vu Cấm được Tào Tháo sai đi đánh nhau với Quan Vũ, bị Quan Vũ đánh bại và cùng phó tướng Bàng Đức bị bắt sống. Trong khi Bàng Đức không chịu khuất phục thì Vu Cấm lại sợ hãi xin đối phương tha mạng. Kết quả Đức bị chém còn Cấm bị giam. Sau đó Tôn Quyền sai Lã Mông đánh úp Kinh châu, bắt giết Quan Vũ. Quan Vũ bắt được Vu Cấm, bèn trả về cho Tào Tháo. Đến khi làm vua, Tào Phi sai người vẽ tranh chế giễu Vu Cấm trưng ở chốn đông người. Tranh vẽ Quan Vũ ngồi chễm chệ, Bàng Đức vươn cổ chịu chém, còn Vu Cấm thì khúm núm lạy lục Quan Vũ. Bởi thế Vu Cấm không chịu nổi nhục, lo rầu mãi sinh bệnh mà chết.

Tào Phi rất giỏi thơ phú, ông cùng với cha (Tào Tháo) và em (Tào Thực), đều là những cây bút nổi bật trên văn đàn Kiến An. Thơ ông, hiện còn khoảng 40 bài và bộ
Điển luận. Tuy vậy, qua đó người đọc cũng hiểu được một phần nào quan niệm sáng tác của ông.
Trần Đình Sử trong
Từ điển Văn học (bộ mới) viết đại ý như sau :
- Văn (Tào Phi) có nhiều thể, hiếm có ai giỏi hết, do đó văn nhân không nên dựa vào sở trường của mình mà khinh người, mà nên thẩm xét để hiểu người (thẩm kỷ độ nhân). Ông phản đối thói "văn nhân tương khinh" (văn nhân thường khinh nhau), hay khép kín kiến giải của mình. Ngoài ra, ông còn phê phán khuynh hướng "quý xa, khinh gần", làm văn cốt cầu danh, mà quay lưng với sự thực.
- Các thể loại có những điểm khác nhau : Tấu, nghị nên trang nhã, thư luận nên có lý lẽ, thi phú cần phải đẹp.
- Văn chương đều là sự biểu hiện tư tưởng, tình cảm của người viết. Cho nên gốc văn chương giống nhau mà ngọn (hình thức biểu hiện) khác nhau. Cái khác đó do "khí". Tào Phi viết : "Văn lấy khí làm chủ, mà khí trong hay đục là bẩm phú, không thể dùng sức gắng gượng mà có được !".
- Nho gia xem "lập ngôn" đứng sau "lập đức", "lập công" ; Tào Phi đưa "lập ngôn" lên vị trí cao nhất, xem đó là "việc lớn lao bất hủ trong sự nghiệp trị nước" (kinh quốc chi đại nghiệp, bất hủ chi thịnh sự). Đây cũng chính là quan điểm làm cho trường phái văn học Kiến An trở nên phồn thịnh.
Nguyễn Hiến Lê thì nhận xét : "Giọng thơ Tào Phi không hùng như cha (Tào Tháo), mà có vẻ phong lưu, nhàn nhã. Ngoài tài thơ, Tào Phi còn là nhà phê bình đầu tiên của Trung Quốc, Trong thiên
Luận văn, ông có nhiều ý xác đáng, như :
- Văn lấy khí làm chủ, mà khí có hai thể "thanh" và "trọc". Cả hai đều do trời sinh, không thể gắng sức mà luyện, dẫu cha anh cũng không thể truyền được cho con cái, anh em.
- Bàn về các thể văn, ông cho rằng luận thuyết phải đúng lý, mà thi phú thì cần phải đẹp. Đó là khởi nguyên phong trào duy mĩ ở thời Lục Triều, trái hẳn với lối "văn dĩ tải đạo" (văn để chở đạo) của giai đoạn Tiền Hán trở về trước. Duy mĩ tức là "nghệ thuật vị nghệ thuật", mà tải đạo tức là "nghệ thuật vị nhân sinh".
Ở một thời đại cực kỳ loạn lạc như Lục Triều, chủ trương đó rất được hoan nghênh. Cho nên thời bấy giờ là thời văn thơ lãng mạn nhất của Trung quốc, và nhóm Trúc Lâm thất hiền nổi tiếng vì thói khinh đời ngạo vật, phóng đãng, bất chấp lễ nghi...".
So sánh với Tào Phi, học giả cũng viết :
Tào Phi và Tào Thực, là hai anh em ruột mà tính tình và đời sống trái nhau hẳn. Tào Phi làm vua chỉ cho văn chương mới là sự nghiệp lớn, đáng lưu truyền lại thiên thu ; còn phú quý, công danh hễ chết là hết. Tào Thực, ngược lại, cho văn chương là nghề mọn mà sự lập công mới đáng trọng. Kết lại, ba cha con là Tào Tháo, Tào Phi, Tào Thực, làm lĩnh tụ trên thi đàn Kiến An. Tháo có giọng trầm hùng. Phi thì sầu, nhã. Thực, đa tài hơn cả ; thơ vừa diễm lệ, vừa lâm ly và cao kỳ. Đến năm 226, Tào Phi và Tào Thực đều đã chết hết, văn đàn rực rỡ thời Kiến An cũng rã tan theo.