Tôi nghĩ bảng chữ cái và giáo dục là hai vấn đề có liên quan nhưng hoàn toàn khác nhau.
Cải cách giáo dục không những đòi hỏi đổi mới về nhận thức và quan điểm giáo dục mà còn yêu cầu một khối lượng khổng lồ tiền bạc và công sức.
Gắn cải tiến bảng chữ cái với cải cách giáo dục hoặc nói để cải cách giáo dục xong hẵng bàn đến chuyện sửa đổi bảng chữ cái, thiết nghĩ là không cần thiết.
Thay đổi bảng chữ cái dễ hơn rất nhiều, và có thể làm ngay mà không phải đợi có nhiều thời gian và tiền bạc mới làm được.
Ở ta có nhiều "việc cần làm ngay" quá nên sờ vào việc nào cũng như sờ vào mớ bòng bong.
Mời các bác xem thêm Quy tắc sử dụng chữ I và Y thì sẽ thấy trong bảng chữ cái hiện hành riêng việc dùng có 2 chữ I và Y nó đã rắc rối thế nào!
Kiểu mới
Trừ tên riêng, đề xuất tương đối hợp lí cách dùng hai chữ i-ngắn và y-dài hiện nay như sau:
* Đối với các âm tiết có phụ âm đầu /ʔ/, âm đệm /zero/, âm chính /i/ và âm cuối /zero/, thì có hai cách viết:
1. 1. Dùng "i" trong các trường hợp từ thuần Việt, cụ thể là: i - i tờ; ì - ì, ì ạch, ì à ì ạch, ì ầm, ì oạp; ỉ - lợn ỉ, ỉ eo, ỉ ôi; í - í a í ới, í oắng, í ới; ị - ị, béo ị
2. 2. Dùng "y" trong các trường hợp còn lại (thường là từ Hán-Việt), ví dụ: y - y tế, y nguyên, y phục; ỷ - ỷ lại; ý - ý nghĩa, ý kiến...
* Đối với các âm tiết có âm đệm /zero/ và âm chính /ie/ thì dùng "i". Ví dụ: ỉa, chịa, đĩa, tía... kiến, miền, thiến... Trừ trường hợp có âm đầu /ʔ/ và âm cuối không /zero/ thì dùng "y": yếm, yến, yêng, yêu...
* Đối với các âm tiết có âm đệm /w/, âm chính là /i/ hoặc /ie/ thì dùng "y". Ví dụ: huy, quý, quýt... khuya, tuya, xuya... quyến, chuyền, tuyết, thuyết...
* Việc biểu diễn nguyên âm /i/ trong các trường hợp còn lại (âm đệm /zero/) thì dùng "i". Ví dụ: inh, ích, ít... bi, chi, hi, kì, khi, lí, mì, phi, ti, si, vi... bình, chính, hít, kim, lịm, mỉm, nín, phình, tính, sinh, vinh...
* Việc biểu diễn âm cuối /-j/ không có gì thay đổi, vẫn dùng "y" trong các trường hợp có nguyên âm chính ngắn: (bàn) tay, (thợ) may, tây, sấy... và dùng "i" trong các trường hợp còn lại: (lỗ) tai, (ngày) mai, cơi, coi, côi...
1. 3. Dùng "i" trong trường hợp các tiếng có phụ âm đầu + vần "i" ( ví dụ: lí, mĩ, kĩ, thi, sĩ...) đều thống nhất viết bằng "i" (i ngắn). Ví dụ: lí luận, lí tưởng, thi sĩ, nước Mĩ, Hoa Kì, bánh mì, vua Lí Thái Tông, Lí Bí, kỉ niệm, v.v... (mà không viết "y" (y dài) như trước đây. Đây là quy định của Bộ Giáo duc Việt Nam từ năm 1963. Hiện nay Nhà xuất bản Giáo dục vẫn thực hiện nghiêm chỉnh quy định này trong việc in Sách giáo khoa các loại.
Kiểu cũ
Cách dùng "i" hoặc "y" kiểu cũ thì thường căn cứ vào Hán Việt Từ điển của Đào Duy Anh (1931).[12] Theo đó thì "y" được dùng thay "i" với những từ gốc Hán Việt nếu đứng sau các phụ âm h, k, l, m, t, và q (qu). Vì vậy nên có "ngựa hí", "tì tay" (gốc Nôm) nhưng "song hỷ", "hồi tỵ" (gốc Hán Việt). Những phụ âm khác thì vẫn dùng "i" như "tăng ni" chứ không có ny.
--------
Viết thêm: Tôi là chúa viết sai, ví dụ khi thì "dòng" sông, khi thì "giòng" sông. Vì vậy tôi ủng hộ cải tiến bảng chữ cái tiếng Việt.
__________________

Ký cả hai tay!
|