Làm mối [Сватовство]

Làm mối
Một tài liệu làm bằng vỏ cây bạch dương ở tỉnh Novgorod ghi chép từ thế kỷ thứ mười ba cho biết: "Từ Mikita đến Uliianitsa. Tổ chức đám cưới với em. Em rất muốn lấy anh và anh cũng muốn lấy em. Và có người đã xem mắt Ignat rồi…(3)". Tuy nhiên, ghi chép này khá lạ. Lễ cưới phổ biến hơn, là những lễ cưới giống như hầu hết những lễ cưới cổ của châu Âu, cần phải có sự đàm phán thương lượng của các bậc cha mẹ hai bên với nhau, còn đôi trai gái chỉ đóng một vai trò rất nhỏ hoặc không có quyền gì cho lễ cưới của mình cả. Họ rất hiếm khi được gặp nhau trước lễ cưới của mình. Theo như một câu tục ngữ phổ biến vào thế kỷ thứ mười bảy: "Một trinh nữ được nhìn thấy là đồng, nhưng một người con gái không nhìn thấy là vàng"(4). Một khái niệm khá lãng mạn là, có những đôi tình nhân đã bỏ trốn khỏi gia đình, vì quyết liệt bác bỏ những tục lệ này. Vào thế kỷ thứ mười sáu. Nhà lữ hành Sigmund von Herberstein đã ghi chép lại rằng:
"Một chàng trai đã đi kiện về một đám hứa hôn của một người nào đó cho con gái, vì đã bị xem thường. Sự việc là, người cha của cô gái đã nói với anh ta là: ' tôi ưng thuận anh, và sự tích cực của anh, do đó tôi trao con gái của tôi cho anh để làm lễ cưới'. Chàng trai trẻ trả lời: 'tôi sẽ nói với bạn bè tôi về điều đó'. Nếu cả đôi bên đề có xuy nghĩ tốt đẹp về vấn đề này, thì cuộc đàm phán đã kết thúc, và ngày cưới đã được ấn định" (5).
Theo Rabinovich, tuy nhiên, đám cưới thường do người mẹ của chú rể chuuẩn bị (hoặc một người bạn thân thiết nhất của cha mẹ anh ta)(6). Svakha này là do "mẹ của chú rể hoặc một vài người bà già khác trong họ hàng hoặc người thân anh ta"(7). Cho lễ cưới, phải có một khoảng thời gian nhất định trôi qua giữa lễ đính ước và lễ cưới (mặc dù thời gian rất linh động, và hai lễ này có thể làm liền một lúc) (8). Trên thực tế, đôi nam nữ có rất ít hoặc không có quyền được quyết định về đám cưới của mình, điều đáng chú ý là, họ chỉ có quyền trên lý thuyết mà thôi. Theo luật pháp của thế kỷ mười một, nếu một người phụ nữ không ưng thuận đi lấy chồng, hoặc phải lấy người mà cô ta không mong muốn, thì cha mẹ của cô ta sẽ bị phạt (9). Tuy nhiên, sự ưng thuận có thể bị ép buộc, và có một chút bảo vệ quyền lợi quyết đính của đôi trẻ. Chính hôn lễ cũng rất ít có cơ hội cho đôi vợ chồng trẻ tự mình có sự đồng ý hoặc bất đồng quan điểm. Theo phong tục, đôi tân hôn chỉ cần có mặt tại hôn lễ và làm theo mọi sự đã được an bài từ trước (10).
Có thể rất khó cho chúng ta ngày nay đánh giá được đúng về hoàn cảnh này. Chúng ta lại thiên về với ý nghĩ rằng, đó là một chế độ bị áp bức. Tuy nhiên, chúng ta đã quên một thực tế rằng, sự hôn nhân không được xem thường như người ta muốn lựa chọn một vật gì tùy thích. Không có một nam thanh nữ tú nào trông đợi điều đó đối với hôn nhân. Theo quan niệm của người Nga cổ, hôn nhân vốn chỉ là một phần của cuộc sống, mà phần này đã được định sẵn bởi số phận
Chú thích:
(3) Levin trích dẫn, trang. 100.
(4) Dorothy Atkinson, "Xã hội và giới tính trong quá khứ nước Nga" "Phụ nữ Nga" Dorothy Atkinson, Alexander Dallin, và Gail Warshofsky Lapidus. (Stanford, CA: Trường đại học báo chí Stanford, 1977), trang 17.
(5) Sigmund von Herberstein, Diện mạo của Moskva và người Moskva, do J. B. C. Grundy dịch(London: J. M. Dent & Sons, Ltd., 1557/1966) trang. 39. Von Herberstein, vốn là một nhà ngoại giao Đức, ông đã hai lần đến nước Nga vào thế kỷ thứ mười sáu (1517-18 và 1527-7), và đã ghi chép được rất nhiều tài liệu về cuộc sống hàng ngày, bao gồm cả một đám cưới của người Nga mà ông đã tận mắt chứng kiến.
(6) M. G. Rabinovich, "Svad'ba v russkom gorode v XVI v.," in Russkii narodnyi svadebnyi obriad: Issledovaniia i materialy, K. V. Christov và T. A. Bernshtam. (Leningrad: Nauka, 1978), trang 12.
(7) Giles Fletcher, "Of the Russe Commonwealth," Rude & Barbarous Kingdom, Lloyd E. Barry và Ribert O. Crummey. (Madison WI: University of Wisconsin Press, 1968), trang. 229.
(8) Rabinovich, trang 12.
(9) Atkinson, trang 6.
(10) Levin, trang 98.
|