Điều này không xảy ra, và để tiết kiệm về bột mì "nguyên chất", chính quyền mau chóng lao vào háo hức tìm kiếm thứ thay thế có thể dùng làm chất độn trong bột làm bánh. Khi vào tháng 9 nhiều chiếc bè chở bột ngũ cốc bị quân Đức đánh chìm ở hồ Ladoga, 1 lượng lớn bột ngũ cốc được vớt lên bởi thợ lặn và mặc dù, rất dễ hiểu, chúng không phù hợp cho bộ máy tiêu hóa của con người, thứ bột mốc meo ấy được dùng làm chất độn. Từ 20 tháng 10, bánh mì bao gồm 63 % bột mì, 4 % bột lanh (flax-cake), 4 % cám, 8 % bột thô (whole meal), 4 % bột đậu nành (soya flour), 12 % bột mạch nha (mault flour), 5 % bột mốc (mouldy flour); vài ngày sau, do bột mạch nha đã hết, những chất độn khác được sử dụng như cellulose (chắc là bột giấy) sau khi được chế biến bằng cách nào đó, và bột bông vải (cotton cake). "Trong thời kỳ khủng hoảng cao đó, những chất độn cho phép kéo dài thêm 25 ngày khẩu phần". Đúng vậy, bột giấy và bột mốc khiến bánh mì có vị mốc meo và đắng, "nhưng trong những ngày ấy, vị của thức ăn là điều mà mọi người không còn quan tâm tới nữa".
Không cần phải noí thêm, yến mạch vốn giành làm thức ăn cho ngựa, nay được con người sử dụng, còn ngựa - ít nhất 1 số nhỏ của chúng được quân đội cần thiết phải giữ lại - được cho ăn lá cây và những thứ tương tự. Những chất độn không thể tưởng tượng nổi được phát minh ra. Tại cảng Leningrad người ta tìm ra 1 kho chứa 2000 tấn ruột cừu; tất cả đã hóa thành một thứ chất lỏng khủng khiếp, mùi của chúng xuyên qua cả nhiều lớp găng tay; trong cao điểm của nạn đói, thứ ruột cừu nhầy nhụa đó thường được phân phối cho những người cầm sổ gạo thay cho khẩu phần thịt.
Không như các thành phố khác tại Liên Xô trong thời kỳ chiến tranh, nơi moị người có thể mua một số thứ khác tại khu chợ của kolkhoz (nông trang tập thể), cộng đồng dân cư Leningrad hoàn toàn chỉ dựa vào ration card của mình.
|