Anh hùng phi công Nguyễn Văn Cốc, Phần 2
Có thể nói, những chiến công của Trung tướng Nguyễn Văn Cốc đã làm rạng danh Không quân Việt Nam. Trong chiến đấu, ông anh hùng là thế nhưng ở cuộc sống đời thường, ông quả là một người “nghi ngơ” thật đáng yêu.
Nhắc đến anh hùng phi công Nguyễn Văn Cốc, người ta thường được nghe những người lính Phòng không – Không quân kể về cái tính “nghi ngơ” đãng trí rất đáng yêu của ông. Và sự “nghi ngơ” trời phú ấy nhiều khi đã đem đến những tình huống thật hài hước và không kém phần thú vị, đặc biệt là trong tình yêu của ông ở những ngày đầu tiên.
Anh hùng của đời thường
Cuộc gặp gỡ đầu tiên
Năm 1966, Đoàn văn công Quân chủng Phòng không – Không quân về biểu diễn phục vụ tại Đoàn Không quân Sao Đỏ – đơn vị đầu tiên của Không quân Việt Nam. Nguyễn Văn Cốc đang là phi công chiến đấu tại đây. Theo phân công thì mỗi đại đội chỉ được xem một đêm. Trong buổi đại đội mình được đi xem, Nguyễn Văn Cốc đã “phát hiện” ra ca sĩ Thu Hương và cứ ngồi sát cánh gà xem cô hát. Đến hôm sau, dù đã hết lượt đại đội của ông được xem nhưng vẫn thấy Nguyễn Văn Cốc “mò” ra ngồi sát cánh gà. Khi Thu Hương hết phần biểu diễn, ông lân la làm quen. “Đồng chí Hương ơi, thế quê đồng chí ở đâu?” “Quê tôi ở Thanh Hoá đồng chí ạ” – Cô ca sĩ trả lời rất xã giao. Một lúc sau lại thấy ông hỏi: “Đồng chí Hương ơi, quê đồng chí ở đâu?” “Ơ, tôi vừa nói với đồng chí rồi mà, quê tôi ở Thanh Hoá...” Chàng phi công trẻ đứng ngẩn ra, nhưng một lát nữa Nguyễn Văn Cốc vẫn lặp lại câu hỏi này khiến cô văn công trẻ không khỏi... ngỡ ngàng. Ông đã làm quen với người vợ của mình như thế.
Sau đó, thi thoảng có dịp về Quân chủng là ông lại “tụt tạt” vào thăm bà ở khu nhà dành cho diễn viên Đoàn văn công. Bà ở tập thể nên tất cả khách khứa đến chơi đều chỉ ngồi trên giường. Nguyễn Văn Cốc cũng không là ngoại lệ. Và tất cả những buổi viếng thăm đó, thời gian đều được ông dùng để... cấu vào chiếc chiếu trải giường. Kết quả là sau mấy lần ông đến chơi, chiếc chiếu bị rách cả một mảng mà chuyện tình cảm thì chưa có tiến triển gì. Đến năm 1969 ông và bà cùng được đi dự Đại hội Anh hùng chiến sĩ thi đua của Quân chủng Phòng không – Không quân. Ông là chiến sĩ Quyết thắng có thành tích lẫy lừng bắn rơi 9 máy bay Mỹ. Bà là chiến sĩ thi đua tiêu biểu, 1 trong 5 đại biểu nữ. Việc qua lại giữa hai người vẫn chỉ là thân quen chứ chưa có gì xa hơn. Vì bà ngày đó cũng có rất nhiều “anh tài” theo đuổi, cả anh hùng phi công, anh hùng xe tăng và nhiều nhân vật tiếng tăm khác. Còn ông, tuy cũng là dũng sĩ diệt máy bay, được Bác Hồ khen ngợi và là thần tượng của biết bao cô gái đẹp nhưng với bà vẫn chưa thật sự ấn tượng. Nhưng như là duyên phận, 8 năm sau kể từ tối xem văn công đầu tiên, ông và bà đã chính thức làm lễ cưới sau những năm tháng qua lại, với nhiều thử thách từ chính bản thân mỗi người.
Năm 1971, trước khi đi Liên Xô học tiếp như đã nói ở trên, ông có nhờ đồng chí Vũ Thành, ở Ban cán bộ Quân chủng mai mối với bà. Nhận được lời mai, bà vẫn chưa trả lời dứt khoát mà chỉ giữ quan hệ thân mật. Bà khẳng định là chưa có người yêu, còn có yêu ông hay không thì... không nói. Thời gian ông đang học tại Liên Xô, hai người vẫn giữ liên lạc. Một sự kiện đã làm thay đổi “cục diện tình trường” trong bà. Ấy là năm 1972, khi Điện ảnh Quân đội xây dựng và công chiếu bộ phim “Bay lên từ mặt đất” làm về anh hùng phi công Nguyễn Văn Cốc (năm 1969 ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND). Khi bộ phim được chiếu tại Trường dự khoá bay, gần nơi Đoàn Văn công ở, bà có đi xem. Phim quá hay và cảm động, khắc hoạ đầy đủ chân dung người anh hùng ra đi từ đồng quê với hoàn cảnh đầy khó khăn vất vả, bố lại mất từ khi mới 5 tuổi. Hình ảnh mẹ ông đến đơn vị thăm con, và ông lái máy bay cho mẹ xem vô cùng ấn tượng. Bà thực sự xúc động và tự nhiên thấy... yêu thương ông biết bao.
Năm 1974, đang học ở Liên Xô ông được về phép, tới nhà bà chơi. Nhà bà lúc đó ở số 10 – phố Thuỵ Khuê (Hà Nội). Mẹ bà bảo con gái: “Tao chưa thấy ai nhiều mối như mày, nhưng trong tất cả những “thằng” đến đây tao thấy thằng Cốc là được nhất, mày lấy nó đi.” Và bà đã đồng ý lời cầu hôn của ông. Tưởng rằng từ từ, hai năm sau ông học xong về nước mới tổ chức cưới, ai dè “được lời như cởi tấm lòng”, ông tức tốc lên báo cáo Bộ tư lệnh Quân chủng và “cưới liền tay” trong sự ngỡ ngàng của rất nhiều anh tài xung quanh bà và sự ngẩn ngơ của biết bao cô gái đẹp coi ông là thần tượng.
Anh hùng Cốc đi đăng ký kết hôn
Xoay quanh đám cưới của ông bà cũng có nhiều chuyện khôi hài. Hai người rủ nhau đi đăng ký kết hôn. Đúng hẹn ông đến, và ông dẫn bà tới... đồn công an Ba Đình để đăng ký. Cả hai xúng xính trong quân phục mới. Bà sung sướng nắm tay ông bước... vào đồn. Đến nơi ông bà thấy rất đông người đứng ngồi ở đó cùng với quanh gánh, xe cộ. Hai người vào ghế ngồi chờ. Ông chỉ vào mấy bà có vẻ quê mùa, nhiều tuổi bảo, quái sao mấy bà kia già thế mới đi đăng ký kết hôn nhỉ. Bà cũng bảo, ừ nhỉ, sao già thế mới cưới nhỉ. Chờ mãi không thấy gọi tên, ông lại bảo, hôm nay sao đông thế, mãi không đến lượt. Mãi đến 11 giờ trưa, khi những ông bà già cùng với thúng mủng, xe cộ cũng đã xong việc, vẫn không thấy gọi đến tên mình. Lúc đó có một đồng chí công an đến hỏi, xin lỗi các đồng chí đến đây có việc gì ạ? Ông bảo: Chúng tôi đến để... đăng ký kết hôn. Anh công an và mọi người ở đó mới cười ầm lên trước con mắt ngơ ngác của đôi uyên ương. Anh bảo, đăng ký kết hôn thì phải đến Ủy ban nhân dân Phường chứ đồn công an không làm việc này, và chỉ dẫn cho ông cặn kẽ. Lúc đó hai người mới ngớ ra, thì ra cả buổi sáng họ toàn ngồi với mấy ông bà buôn lậu bị bắt vào đồn công an và cứ kiên nhẫn chờ đến lượt... giải quyết.
Thế nhưng sau đó ông được vào đồn công an thật. Trước hôm cưới, ông có về đơn vị bên Nội Bài lấy tiêu chuẩn bánh kẹo đơn vị cho để phục vụ lễ cưới. Ông đi một chiếc xe máy mang từ Liên Xô về. Khi từ Nội Bài trở lại Quân chủng, đến Cầu Đuống, công an thấy ông chở một bọc thuốc lá, bánh kẹo thì nghi là buôn lậu nên giữ lại. Ông chẳng mang thứ giấy tờ gì trong người, thế là phải vào đồn chờ giải quyết. Ở nhà bà và mọi người chờ dài cả cổ. Mấy người bạn thì cứ ra vào than vãn, quái sao thằng Cốc về đơn vị từ sáng mà chẳng thấy lên. Mãi đến 1 giờ đêm ông mới được thả cho về chứ cũng chả trình bày, xin xỏ giải thích gì. Bởi thế, anh em trong Không quân vẫn đùa ông và một số phi công là “người giời” vừa bởi các ông bay giỏi, đánh địch trên không giỏi nhưng cũng để ám chỉ cái sự “lãng đãng mây gió” của một số phi công trong đời thường.
Tuy có vài sự cố nhỏ như vậy nhưng rốt cục thì đám cưới của ông bà vẫn được tổ chức vui vẻ và đầm ấm tại nhà khách Bộ Giáo dục, 24 – Quang Trung – Hà Nội (thuộc cơ quan của Cha bà). Phù dâu là hai cô văn công - đồng nghiệp của bà; phù rể là hai anh phi công Phạm Phú Thái và Hoàng Quốc Dũng - đồng đội của ông. Hai người ở với nhau được một tháng thì ông hết phép, lại lên đường sang Liên Xô học tiếp. Khi đã về nước hẳn ông cũng rất bận rộn với công việc của một phi công, một cán bộ làm công tác quản lý tại các sân bay, lúc xa, lúc gần, vì vậy thời gian ông bà được sống bên nhau không nhiều. Thỉnh thoảng, sự “nghi ngơ” của ông lại được thể hiện trong sinh hoạt, nhng bà coi đó như một “đặc tính của người trời” khi ở mặt đất nên ông bà vẫn sống hoà thuận và êm ấm.
Nguồn Pilot.vn