Sau khi đọc rất nhiều tranh luận về NMLD DQ cũng như các dự án lớn khác. Tôi thấy có 3 điều bổ ích mà tôi học được.
Thứ nhất là vẫn còn tồn tại sự nhầm lẫn trong tư duy về công-tư ở xã hội VN, chính vì sự nhầm lần này mà ai cũng đề cao lợi ích công ở cửa miệng nhưng khi hành động thì lại làm theo lợi ích riêng. Qua các bài viết của các kỹ sư đang vận hành NMLD ta dễ nhận thấy sự nhầm lẫn này. Cụ thể là khi viết họ luôn đề cao việc làm của họ như là một việc vì mục đích đóng góp cho sự nghiệp chung, trên cả lợi ích cá nhân của họ. Tuy nhiên nếu giả sử rằng nhà nước quyết định cắt giảm hai phần ba mức lương mà các kỹ sư này đang nhận để dành phần tiền thu được cứu trợ đồng bào đói khổ ở miền trung thì có lẽ lúc này ko ít người trong số họ sẽ phải phản đối, mặc dù lương có cắt thì cái mục đích cao cả là đóng góp cho nhân dân miền trung vẫn còn đấy.
Điều thứ hai tôi thấy rất bổ ích đó chính là những kiến thức về xã hội mà tôi thu được từ các tranh luận. Khái niệm xã hội dân chủ đã được Đảng đề cập rất nhiều lần trong các văn kiện của mình, nước CHXHCN VN cũng đã từng có tên gọi là Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Việt Nam. Như vậy khái niệm này hẳn ko phải là những điều mới mẻ hay cấm kỵ gì đối với người VN, tuy nhiên trước khi xảy ra các tranh luận về NMLD DQ tôi hoàn toàn ko có hiểu biết gì về khái niệm này, mặc dù nó được nhồi nhét vào đầu tôi hằng ngày như là một khẩu hiệu. Sự hiểu biết này bắt nguồn từ câu trả lời cho các câu hỏi kiểu như: đối với những dự án công như NMLD DQ thì ai sẽ là người có quyền quyết định xây dựng nhà máy và ai sẽ là người quyết định đặt nhà máy đó tại đâu? Câu trả lời đương nhiên là do nhân dân quyết định (dân chủ). Đại diện của nhân dân tức là các đại biểu quốc hội mà nhân dân đã lựa chọn sẽ làm thay họ công việc này ở cấp nhà nước. Rất tiếc là ở thời điểm quyết định xây dựng NMLD DQ, quyền quyết định đã ko thuộc về nhân dân theo đúng nghĩa của nó. Vì vậy với tư cách là một công dân VN tôi có nghĩa vụ đấu tranh để giành mọi quyền quyết định những dự án quan trọng trong tương lai về tay quốc hội (ví dụ như dự án Đường sắt Cao Tốc), cũng như đấu tranh để nhà nước chuyên nghiệp hóa quốc hội VN.
Bài học tiếp theo liên quan đến những kỳ vọng về khoa học kỹ thuật. Các dự án lớn như NMLD DQ được truyền thông VN tuyên truyền rất rầm rộ. Tôi còn nhớ ở thời điểm đó (1990s) nhiều báo đài VN cho rằng xây dựng một nhà máy như vậy sẽ có lợi trước mắt về mặt kinh tế, lợi ích tiếp theo là về mặt phát triễn khoa học kỹ thuật. Nhất là các lĩnh vực như hóa dầu, công nghệ vật liệu, công nghệ cơ khí, chế tạo máy sẽ phát triễn rất nhanh nhờ vào việc chuyển giao công nghệ, đi tắt, đón đầu v.v. Tuy nhiên đến thời điểm này có thể khẳng định VN chúng ta ko những ko đi tắt đón đầu như tuyên truyền mà còn phải chịu phụ thuộc vào các tập đoàn nước ngoài về công nghệ. Theo đó khi có hỏng hóc, trục trặc hệ thống hoặc trong 10,20 năm nữa khi thiết bị nhà máy đã lạc hậu cần phải thay thế, chúng ta chắc chắn sẽ vẫn phải mua của nước ngoài chứ ko có khả năng tự làm được. Điều chúng ta hi vọng nhất bây giờ chỉ là mong sao các kỹ sư NMLD vận hành trơn tru nhà máy đúng với chỉ dẫn của các công ty nước ngoài, còn chuyện nghiên cứu chế tạo thiết bị thay thế hay xử lý hỏng hóc lớn về hệ thống là điều không thể kỳ vọng. Từ việc này có thể rút ra kết luận rằng những tuyên truyền đi tắt đón đầu về KHKT là ko có cơ sở. Chừng nào chúng ta còn có tư duy rằng có thể học được một công nghệ đơn giản chỉ thông qua việc bỏ tiền mua một nhà máy hiện đại hay một hệ thống đường sắt tiên tiến thì chừng đó chúng ta sẽ còn mãi lạc hậu.
|