TRUYỆN CÁ QUẢ - Vào nghề - Nguyến Hữu Hùng
Chú Biên đang ngồi uống nước chè cùng chú Bẩy Choắt. Vừa trông thấy tôi, Chú Bẩy Choắt kêu lên ngay:
- Ô! Trông giống thợ câu chính hiệu ra phết. Ngồi xuống đây uống nước cái đã!
- Cám ơn chú, cháu uống nước đầy đủ cả rồi. Tôi lấp liếm trả lời.
Chú Biên vẫn chậm rãi uống nước, cặn kẽ hỏi tôi:
- Sao cháu ăn nhanh thế? Đã no chưa?
- Cháu ăn no rồi chú ạ.
Thực tình lúc đó, tôi chẳng biết no hay đói nũa. Tôi chỉ thấy cái bụng lưng lửng, như đã ăn cái gì quá chán!
Rít xong điếu thuốc lào, nhấm chén chè đặc cuối ấm, chú mới từ từ đứng dậy đi chuẩn bị đồ câu. Vừa chuẩn bị chú vừa dặn lại chú Bẩy Choắt:
- Ông đừng đợi cơm tôi nhá. Chẳng biết lúc nào về đâu?
Chú Bẩy Choắt hỏi lại:
- Hôm nay có chắc ăn không? Tôi đi chợ mua mấy thứ về nấu canh chua nhá.
- Không cần thiết đâu! Nếu kiếm được, về qua chợ Láng, tiện thể tôi mua luôn cũng được. Chú Biên đáp lại.
Chúng tôi đi tắt qua xóm ra phía đường Láng. Tiết trời mùa xuân thật dễ chịu: Nắng xuân dịu dịu, gió nồm nam thổi nhè nhẹ. Bầu trời như có vẻ cao hơn, xanh hơn. Lác đác có một vài đám mây trắng trôi từ từ về phía tây bắc. Cây cối bắt đầu đâm chồi, màu xanh của cỏ cây dần dần trở lại.
Chẳng để ý gì đến mọi vật xung quanh, tôi muốn đi thật nhanh đến chỗ câu. Ngược lại với tâm trạng của tôi, chú Biên vẫn nhởn nhơ con cá vàng, như để thưởng thức cho thỏa thích cái không khí mát lành của đầu mùa xuân. Giọng rè rè như tiếng ống bơ rỉ; vừa đi, chú vừa ngâm nga khe khẽ điệp khúc: “Em ơi mùa xuân đến rồi đó! Em ơi mùa xuân đến rồi đó...”
Chúng tôi dừng lại ở Cống Mọc. Khi đó, ở Cống Mọc chưa có cái chợ cóc lộn xộn như bây giờ. Chỉ có cây cối um tùm mọc kín bờ phía đường Láng. Dưới sông, các bè rau muống đã bắt đầu hồi sinh trở lại sau những ngày đông giá, nhú ra những mầm non mơn mởn, tranh nhau chiếm lĩnh các khoảng nước trống và vươn lên không trung. Giữa những bè rau muống, là những khe nước trống, thẳng tắp, từ bờ sông bên này sang bờ bên kia; lất phất những mảng bèo tấm màu xanh lá mạ loang lổ trên mặt nước. Chú đang ngó nghiêng tìm chỗ đứng câu, thì có hai người đạp xe đến. Một trạc tuổi chú, một trông có vẻ già hơn. Mỗi người vác trên vai một chiếc cần câu như của chúng tôi; nhưng có vẻ cũ kỹ, đã ngả màu vàng xỉn. Họ chào chú Biên trước:
- Chào anh Biên. Gớm! Lâu lắm rồi mới gặp. Có khỏe không? Hôm nay cũng đi câu khai xuân à?
- Vâng! Chào hai bác. Cám ơn, tôi vẫn bình bình. Ngày hai bữa cơm no, nhưng thiếu cái chất tanh tanh. Hôm nay có cháu ở quê lên chơi. Tiết trời lại đẹp, chú cháu tôi đi kiếm chút về cải thiện. Chỉ vào tôi, chú trịnh trọng giới thiệu:
- Đây là cháu tôi, mới ở quê lên. Thợ câu chuyên nghiệp của Nam Hà đấy!
Tôi cảm thấy hơi ngượng vì lời giới thiệu quá đáng của chú. Miệng lí nhí:
- Cháu chào hai chú!
Nhìn hình dáng bề ngoài và cách ăn mặc; hơn nữa, nếu là dân thợ câu ở vùng quê, suốt ngày phơi nắng ngoài đồng thì lấy đâu ra nước da trắng trẻo như trẻ con thành phố. Chú thợ câu già tỏ vẻ nghi ngờ:
- Cháu lên Hà Nội chơi với chú Biên hay làm ăn?
Tôi chưa biết trả lời ra sao? Chú Biên đỡ lời ngay:
- Cả hai: Vừa là để thăm tôi, vừa là để xem đất Hà Thành, có làm ăn được không?
Rồi chú tảng lờ sang chuyện khác:
- Hôm nay thời tiết đẹp thế này, chắc ăn đây. Hai bác ở lại câu với chú cháu tôi chứ!
- Đâu dám làm phiền đến chú cháu anh. Chúng tôi lại đằng kia.
Nói xong, hai người thợ câu vội vàng đạp xe về phía Ngã Tư Sở.
Chú Biên nói với tôi như thể thanh minh về những lời quảng cáo có phần hơi quá:
- Dân thợ câu Hào Nam đấy. Tuy là dân Hà Nội chính gốc, nhưng họ giỏi nghề kiếm cá lắm. Đánh ba tiêu, đánh lục; câu cá diếc, cá quả; món nào họ cũng thạo. Họ đi khắp các hồ trong thành phố Hà Nội; lên cả hồ Tây đánh ba tiêu, đánh lục; ra ngoại thành sang phía Gia Lâm, Đông Anh; đi về phía nam, xuống tận Văn Điển, Phú Xuyên, Thường Tín. Nhưng cái món câu cá quả thì họ phải nể chú. Biết chú là thợ câu Nam Hà, nên gặp chú đứng câu ở đâu là họ chuồn đi chỗ khác ngay. Vì vậy, chú phải nói đại lên như thế để họ nể. Cánh thợ câu là như vậy. Thấy thợ câu nào giỏi hơn mình là lảng xa, tìm chỗ khác đứng câu; may còn kiếm được một con. Tôi ngờ nghệch hỏi:
- Tại sao vậy?
Chú cười và bảo:
- Tại sao ấy à! Đứng cạnh thợ câu giỏi chỉ có ăn cám! Cá ăn mồi của người ta chứ đâu ăn mồi của mình. Trừ những con quả nào chưa tiếp cận với mồi câu bao giờ, nó mới cắn câu.
Chú chọn cho tôi một chỗ, mà theo nhận định của chú, có nhiều cá: Bè rau muống to, nước sâu; có những rạch giữa bè rau loáng thoáng những đám bèo tấm.
Chú mắc mồi mẫu cho tôi, dặn đi dặn lại: phải làm thế này..., thế này nhá.
Chú đi tìm chỗ khác, cách chỗ tôi đứng khoảng hai ba trăm mét. Trước khi đi, chú còn dặn:
- Phải kiên trì cháu nhá. “Vạn sự khởi đầu nan”. Hôm nay mà thành công thì cả năm trúng quả đấy cháu ạ!
Tôi háo hức cầm cần câu lên. Bắt chiếc chú Biên, tựa đốc câu vào bụng, tung con mồi theo rạch giữa bè rau muống. Nhưng chẳng hiểu sao, con mồi cứ rơi đánh tõm một cái, chỉ cách bờ bảy tám mét là cùng. Làm đi làm lại đến nửa tiếng sau, chiếc cần câu mới chịu tuân theo cánh tay điều khiển của tôi. Con mồi đã tung được xa hơn, cước ở bát câu xả đều: rèn rẹt, rèn rẹt. Nhưng cái đoạn điều khiển con mồi sao cho giống con nhái bơi thì quả là chẳng dễ chút nào. Lúc thì con mồi chìm xuống sâu, lúc thì con mồi nổi cao; lúc thì con mồi lướt quá nhanh, rồi đột ngột chìm sâu dưới nước. Cái động tác tay trái cuốn cước, tay phải rung cần, kết hợp cùng lúc sao mà khó thế. Chính vì những động tác kết hợp không chuẩn xác, không nhịp nhàng giữa hai tay, cơ bụng của tôi, khiến con mồi bơi không giống con nhái thật. Nó đúng là con mồi giả, bất cứ động vật nào ở dưới nước cũng nhận ra, chứ nói gì đến giống cá quả khôn ngoan kia. Thỉnh thoảng, tôi lại tung con mồi đánh tũm một cái, làm tung tóe cả nước; bằng đánh động cho cá chạy, chứ đâu phải nhử cá!
Đứng câu như vậy được chừng gần hai giờ đồng hồ. Không thấy một con cá nào ra đuổi hoặc đớp mồi, tôi bắt đầu thấy chán. Cuộn cước vào bát câu, tôi ngồi phịch xuống bờ cỏ, ngán ngẩm đưa mắt nhìn về phía chú Biên.
Chú Biên vẫn cần mẫn. Chú không tỳ cần câu vào bụng như mấy lần câu cá tổ. Dùng hai tay nắm đốc câu, giơ cao qua dầu, vút mạnh về phía trước. Động tác này còn khó hơn động tác tỳ đốc câu vào bụng nhiều. Vì khi vút đi, tay cầm bát câu phải thật nhanh, xả cước ra. Bằng cách vút này, mồi câu văng xa tới hai nhăm ba mươi mét; chứ không phải mươi mười lăm mét, như động tác tỳ đốc câu vào bụng.
Tôi vác cần câu đi về phía chú Biên. Như hiểu tâm trạng của tôi vào lúc này, chú hỏi ngay:
- Chán rồi phải không?
- Dạ! Chán lắm rồi chú ạ. Chẳng có con nào ăn cả, đuổi mồi cũng không. Tôi ngao ngán trả lời.
Chú Biên vẫn không ngừng tay vút cần. Vừa câu, chú vừa chuyện trò với tôi. Chú bảo, chắc chắn ở chỗ ấy có cá, nhiều nữa đằng khác. Nhìn váng nước chú biết mà.
Chú buông cần, ngồi xuống vệ cỏ. Rút điếu thuốc lá cuộn trên túi áo ngực, châm lửa hút. Chú thì thào nói với tôi như sợ có người khác nghe được:
- Hôm nay cá phàm ăn lắm, kiên trì cháu ạ.
Rồi chú chỉ vào cái túi vải buộc vào cụm cỏ, để dưới bờ sông: Hai chú quả rồi đấy, toàn là khá cả. Tôi men xuống bờ sông, nhấc thử lên xem. Hai con quả hoa tươi nguyên; mỗi con phải đến bốn năm lạng.
Đợi chú Biên hút thuốc xong, tôi mạnh dạn đề nghị chú đổi chỗ. Có lẽ lời đề nghị của tôi cũng trúng ý chú. Chú bảo tôi đưa bộ cần câu và cái túi để đựng cá còn trống rỗng của tôi cho chú. Chú dặn tôi phải kiên trì, đừng chán nản, rồi vác cần câu đi về chỗ tôi đứng câu lúc trước.
Tôi mắc lại mồi cẩn thận, tự nhủ mình phải cố gắng. Ngay đường câu đầu tiên, rõ ràng một con quả đuổi theo mồi; rồi chẳng hiểu sao, lại hụp mất tăm.
Tôi kiên trì đứng câu, nhưng cũng chỉ được khoảng hơn một giờ đồng hồ nữa, chân tay rã rời. Tôi thấy đói, đói thực sự. Lúc này tôi mới thấm thía lời dặn của chú Biên chiều qua. Tôi nghĩ đến bát cơm rang buổi sáng còn thừa, nghĩ đến những chiếc bánh rán vàng ngậy của cô Cúc, nước miếng cứ ứa ra.
__________________
Ласковый Май
|