Nắng chiều
Kính tặng bà nội Bùi Bội Khâm
Xe đến Quảng Ngãi trời vẫn còn nắng. Quãng đường đi về hướng Ba Tơ bụi đỏ thắm rực lên dưới ánh xiên chéo của nắng quái. Xe nhảy xọc xọc qua mấy cái ổ gà. Bác tài xót xe, buột một câu chửi tục. Bỗng dì Hòa kêu:
- Nhìn kìa! Cầu vồng!
Cả xe ồ lên, ngó ra cửa sổ. Trên nền trời còn nặng nước, một dải cầu vồng lộng lẫy hiện ra, nối hai đường chân trời từ hai phía Đông Tây. Hoa chưa từng thấy dải cầu vồng nào trọn vẹn đến thế, đủ bảy sắc, lồ lộ không hề bị khuất lấp đoạn nào.
“Điềm tốt đấy” – ông Toàn lẩm bẩm. Mặt ông vốn không sinh động, luôn trầm tư đắm chìm trong những suy nghĩ khác thường nào đó, giờ càng đờ đẫn hơn. Không hiểu sao Hoa cứ có cảm giác rờn rợn khi nhìn vào nước da tai tái bung bủng của con người này. Cả mắt nữa, không chút sinh khí, không đáng tin. Vậy mà bà ngoại lại tin ông ta, tin lắm. Từ khi cả nhà nhận được thư của bác Đồng, bạn chiến đấu cùng đơn vị cậu Bình khi xưa, giới thiệu ông Toàn chuyên tìm mộ chiến sĩ, không ngày nào trong nhà không nhắc đến tên ông. “Bác Toàn bảo từ nay đến khi lên đường vào Quảng Ngãi, ngày nào cũng cúng cơm cậu Bình, y như cúng 49, 100 ngày ấy. Không được sai…” “Ông Toàn hẹn mấy hôm nữa sẽ xuống gọi hồn cho, chuẩn bị 7 quả trứng luộc, nhớ phải đón ông ấy đúng giờ, kẻo mà hỏng việc…”
Hoa đang học năm thứ hai trường Luật. Cô theo chủ nghĩa duy lý, không tin vào cúng bái, thánh thần, cái gì cũng bắt bẻ, vì sao, sao lại thế, cơ sở nào… Nhưng thấy bà ngoại sau bao nhiêu năm nằm liệt, chẳng đi đâu ra khỏi nhà, nay gần như hồi sinh cùng với cái tên “Bác Toàn” được nhắc nhở đến luôn luôn, cô không nỡ làm bà buồn. Nhưng kể cũng lạ, khi cô đọc được thông tin trên tờ An ninh thế giới về một nhóm các nhà ngoại cảm vẫn giúp người ta tìm mộ liệt sĩ, có tổ chức đàng hoàng, nói với bà thì bà lại thờ ơ. Ông Toàn là một nông dân chính gốc, quê ở Thái Bình. Mắt đục, chân tay gân guốc, móng tay vàng khé vì khói thuốc. Nghe kể thì một hôm ra đồng bị trúng sét, ông đâm ra nhìn thấu cõi âm, lên đồng gọi hồn áp vong, chỉ đường cho người dương tìm đến âm hồn của những hài cốt thất lạc. Thì ra, niềm tin không cần nhiều lý lẽ và cũng không có lý lẽ. Bà tin ông Toàn bằng trực giác, và vì bà muốn tin. Còn Hoa, ngay cả khi cô lý giải được một vấn đề gì đó rất cặn kẽ thì cô cũng không chắc mình đã tin vào điều ấy!
Cậu Bình của Hoa là con út trong nhà, sau một loạt các anh chị Mong, Đợi, Hòa… Mẹ Hoa là người thứ hai, tên Đợi. Bác Mong định cư bên Pháp, dì Hòa và mẹ Hoa đều ở Hà Nội với bà, Cậu Bình hy sinh năm 1971 ở chiến trường này. Năm ấy cậu chưa đầy 18 tuổi. Hồi nhỏ, Hoa thường hay sợ tấm ảnh cậu Bình treo cao hẳn bên trên bàn thờ. Cậu nhìn qua dãy bát hương, ánh mắt cứ cười cười nhìn theo Hoa, trốn đâu cũng không rời được. Mỗi lần bà bảo Hoa vái cậu Bình đi, thì Hoa chắp tay vái vội vái vàng vài cái, mắt cắm xuống sàn nhà. Về sau lớn lên, nghe mẹ kể về cậu, rằng cậu trắng xinh nhất nhà, chưa kịp có người yêu đã lên đường ra trận, rằng cậu học giỏi và nuôi gà cũng giỏi, đàn gà của cậu toàn được ăn châu chấu béo mẫm..v..v. thì Hoa đã dám nhìn thẳng vào mắt cậu mà không sợ. Hoa thấy mắt cậu rất hiền, và đôi khi qua làn hương khói, Hoa tưởng như cậu nháy mắt cười. Từ đó đâm ra Hoa thấy cậu cháu Hoa đã thân nhau tự lúc nào. Năm lớp 7, đi thi học sinh giỏi Văn cấp Quận, nhận đề về người lính, Hoa còn tả cậu Bình. Về đọc cho bà nghe, bà quệt nước mắt khô, đỏ bỏng cả má. Hoa hỏi cháu tả có giống không, thì bà gật đầu, cười mếu máo. Bà bảo cậu nhỏ người lắm, năm ấy xung phong đi bộ đội, người ta có nhận đâu, tuổi chưa đủ, cân nặng cũng thiếu. Cái ông phụ trách tuyển quân trên quận còn đùa: “Tết này bảo mẹ nấu nhiều bánh chưng vào, ăn cho lớn rồi đi đợt sau nhé!”… Thế mà cuối cùng thế nào vẫn xin được cái lệnh nhập ngũ. Hôm cậu báo với bà, bà có buồn không bà? Nhưng chắc là hồi ý ai cũng vui khi có con đi theo tiếng gọi của Tổ Quốc, nhỉ bà nhỉ? Bà thở dài bảo không, chẳng hiểu là buồn hay vui, chỉ thấy người không được bình thường. Cậu Bình tinh ý, hỏi: “Mợ sao vậy mợ? Hay mợ sợ con đi rồi con chết?”… Cái thằng, gở mồm gở miệng… Không người mẹ nào tiễn con đi lại dám nghĩ đến điều đó, họ không để những ý nghĩ như thế len vào đầu. Bà thở như hắt ra, nói, ngày đi, cậu mặc quân phục mới rộng thùng thình, mặt non choẹt, nhìn buồn cười lắm. Bây giờ mua đồ hàng mã hóa cho cậu, bà cứ nghĩ, không biết cậu có lớn lên không, mặc cỡ này có vừa không. Bà lẩm cẩm nhỉ, người chết làm sao lớn được. Cậu Bình cứ gầy nhỏ như thế mãi thôi… Và trẻ như thế mãi, bà ạ, Hoa thì thầm.
Một đêm Hoa mơ thấy cậu Bình về. Cậu mặc quân phục oách lắm, đeo hai súng hai bên, đi như lướt trên sàn đá hoa. Cậu kể là đang đi đánh trận ghé qua. Hoa hỏi, hòa bình rồi cơ mà, cậu? Cậu nói, mặt buồn rười rượi: “Lúc nào chẳng có giặc hả cháu, kể cả khi đã hòa bình”. Hoa tỉnh dậy cứ ngẩn ngơ, không hiểu cậu nói thế là sao. Có bận Hoa lại mơ thấy Hoa đứng thắp hương cho cậu, thì từ đôi mắt trong tấm ảnh bỗng chảy ra hai hàng nước mắt. Hoa hỏi, cậu bảo, thương anh em đói, ém ngoài ruộng đã mấy ngày, không ăn gì ngoài củ dong, xót hết cả ruột. Rồi cậu hỏi, sao cháu không hóa vàng cho cậu. Hoa giật mình dậy, mới nhớ ra mấy hôm rằm, mẹ đặt tiền vàng lên bàn thờ mà sau đó bận bịu quên không hóa. Sáng ra Hoa vẫn nhìn thấy tập tiền đô âm phủ trên đĩa, bèn đem đi hóa, rồi không đừng được lại kể với bà. Bà ôm tấm ảnh cậu Bình, lấy khăn sạch lau khắp mặt kính, như thể lau nước mắt cho cậu. Rồi thắp cả một thẻ hương, khói nghi ngút. Khói bay quanh quất, quấn vào mái tóc đã bạc gần hết của bà, khiến Hoa thấy bà như gần như xa. Hoa thót tim một cái. Bà cũng đã 80 rồi còn gì. Bao nhiêu năm hỏi han tìm tòi tin tức của đồng đội thân thiết của cậu Bình mà không có kết quả, bà gần như kiệt sức. Có những hôm, bà ngồi thừ cả ngày trên phản, tay cứ xoa xoa mặt phản đen bóng loáng. Hoa biết, trước đây hồi còn đi học, cậu Bình hay thích cởi trần nằm trên tấm phản này mùa Hè, mồ hôi của cậu thấm xuống phản, bà bảo đến giờ bà vẫn thấy mùi chua chua. Hoa thì chẳng thấy mùi gì cả, nhưng mỗi lần trèo lên phản, Hoa ngồi rất rón rén, cứ như thể đây là tấm phản riêng của cậu Bình, chiều tối cậu về cậu nằm.
Cũng chính vì thế mà dần dà, Hoa không còn cảm giác cậu Bình đã hy sinh, lại chưa tìm được hài cốt. Hoa thấy cậu vẫn hiện diện trong nhà. Đi lại, nói năng, chum miệng bắt chước tiếng chuột để gọi mèo, rồi có lúc hát ầm lên bài hát “Lì và sáo” nữa… Đương nhiên, tất cả những điều ấy Hoa đều nghe qua bà, mỗi chiều Hoa học bài xong, nhổ tóc sâu hay bắt bão đầu cho bà, bà lại kể lể bằng cái giọng đều đều, khẽ như không muốn ai phải giật mình, hay đúng hơn là không muốn chính mình bị giật mình mà dứt ra khỏi những hoài niệm. Hoa phải căng tai ra nghe, lâu rồi cũng thành quen, Hoa nghe được bằng hết. Đôi khi Hoa tưởng như Hoa nghe bằng bàn tay, chỉ chạm tay vào người bà là đã thấy bao ký ức dội lên rồi.
*