TRUYỆN CÁ QUẢ - Chú Biên - Nguyễn Hữu Hùng
Chú có một cây lao chuyên để đâm cá và bắt rắn vào ban đêm. Tự tay chú chế tạo ra cây lao này. Cây lao làm bằng đoạn gốc của cây trúc rừng. Loại trúc chỉ có ở vùng núi đá của tỉnh Cao Bằng: vừa dài, vừa thẳng và rất cứng. Người ta buôn về để bán cho các xưởng thủ công làm bàn ghế và đồ mỹ nghệ.
Chú lấy một đoạn dài khoảng hai mét, đầu gốc gắn với một chạc đôi bằng sắt; cho mục đích bắt rắn; đầu ngọn gắn với chùm 5 chiếc đinh, đầu cắt ngạnh, chuyên dùng để đâm cá. Trước ngày nhập ngũ, chú buộc cẩn thận cây lao cùng với chiếc cần câu, rồi bỏ lên gác bếp. Chú hy vọng chiến tranh sớm kết thúc, trở về quê; chú sẽ tiếp tục kiếm sống bằng cái nghề mà chú yêu thích.
Đấy là chuyện đâm cá ở quê. Còn ở đây, trong tay chú chỉ có con dao quắm. Chú đành phải bỏ con quả, lừa chém con chép. Trở lại chỗ hai chiến sỹ đang bắt tôm, mang con chép nặng gần hai kilô; bị chú chém bể cả đầu, máu tươi chảy ròng ròng, làm hai chiến sỹ hết sức kinh ngạc. Họ xuýt xoa, không hết lời ca ngợi. Chú bảo:
- Đây là cái nghề kiếm cơm của tớ ở nhà mà, các cậu khen tớ thì khen cả đời. Nếu có cây lao, đêm nay còn kiếm được nhiều cá nữa.
Khoảng gần hai giờ đồng hồ, chú cùng hai chiến sỹ đã kiếm được trên một kilô tôm, năm con bống hoa, một con chép to và hai mười con cua đá, to cỡ ba ngón tay.
Tìm được nguồn thực phẩm tươi sống giữa núi rừng Trường Sơn vào thời điểm này là vô cùng quý giá. Chiến lợi phẩm đầu tiên ở nơi mới chuyển đến làm nức lòng các chiến sỹ. Do vậy, cả tiểu đội rôm rả bàn chuyện nấu một nồi súp cá-cua để thưởng thức ngay trong đêm. Không đợi được phân công, mỗi người một chân một tay: người bổ củi, người nhóm bếp, người lấy nước, người vo gạo, người làm cá ... Cá chép được luộc cùng với cua, bóc lấy thịt, xào lẫn nước mắm, thêm vào dăm quả ớt chỉ thiên rừng. Đầu cá, xương và càng cua được giã ra, lọc lấy nước. Chuẩn bị xong các thứ, hòa vào nồi cháo hoa. Nồi súp cháo cá-cua thơm lừng có vị ngọt tự nhiên của động vật hoang dã, làm mọi người chảy nước miếng. Hai chiến sỹ đang bị sốt cũng gượng dậy, ăn hết cháo đựng trong bát B.52 (loại bát ăn cơm của Trung Quốc làm bằng sắt tráng men). Ngồi xung quanh đống lửa bập bùng giữa đại ngàn Trường Sơn, cả tiểu đội xì xụp húp cháo, chuyện trò râm ran tới tận khuya.
Có thức ăn tươi, bữa cơm ngày hôm sau, ai ăn cũng cảm thấy ngon miệng, nồi cơm cứ vơi đi ào ào. Hai chiến sỹ đang bị sốt, được bồi bổ bát cháo cá tối hôm trước, sáng hôm sau đã khỏe hơn, dậy ăn được vài lưng cơm.
Được cả tiểu đội tin cậy và hy vọng vào tài xoay sở thực phẩm của chú; những ngày tiếp theo, sau giờ làm việc vất vả ngoài thực địa, chú tiếp tục tìm kiếm thức ăn tươi sống cho đơn vị. Với những kinh nghiệm tích lũy được trong suốt thời niên thiếu; chú lấy những chiếc kim băng, uốn thành lưỡi câu rô, câu trê đủ loại. Mồi là giun đất, châu chấu rừng, tép suối, sung chín là những thứ mà bọn cá rô, cá trình, cá thiểu, cá chày đều thích ăn. Tranh thủ những lúc sáng sớm, lúc chiều tà và cả buổi nghỉ trưa; các chiến sỹ đua nhau theo chú đi câu cá. Nhiều chiến sỹ câu được những con cá trình nặng tới nửa kilô. Cá câu được nhiều, thả vào xoong quân dụng ăn dần. Đơn vị chú ngày nào cũng có cá, tôm, cua cải thiện trong bữa ăn. Các chiến sỹ hứng khởi, làm việc quên cả mệt nhọc.
Có một chuyện mà chú chưa từng gặp trong đời làm nghề câu cá. Đấy là một lần, chú ngồi câu cá thiểu dưới gốc cây sung cổ thụ. Một con cá thiểu cắn câu. Chú chưa kịp giật thì một con quả xộp, đen chũi, lừng lững to như bắp đùi người lớn, lao ra, quật mạnh đuôi, đánh “ùm” một cái, ngoặn con thiểu đang mắc câu và lôi luôn cả dây câu, cần câu vào hang dưới gốc sung. Nước tung tóe lên tận mặt chú, chẳng khác nào có người vác hòn đá to ném xuống nước.
Đúng là cá ở nơi hoang dã, chưa có con người săn bắt, hơn nữa có thể nó là “Đại vương” ở đoạn suối này nên mới táo tợn như vậy. “Con quả này cũng phải đến ba kilô. Phải có cách bắt nó”. Chú thầm nghĩ.
Về hang, chú sửa một dây câu. Sẵn có dụng cụ và lò xo thép kiếm được từ những chiếc ôtô hồi ở tuyến ngoài, gần thị trấn Cổn; chú dũa một lưỡi câu đặc biệt. Đặc biệt ở chỗ nó không chỉ to hơn lưỡi câu quả bình thường; chú còn tết thêm một lưỡi câu nhỏ vào cuống lưỡi câu to. Dây câu là ba sợi dây dù tết lại. Vất vả lắm chú mới kiếm được một con rô, cỡ bằng ngón chân cái. Móc lưỡi câu rô qua đỉnh lưng, còn lưỡi quả thì ôm lấy phía dưới bụng con mồi. Làm như vậy, con rô sống được lâu; nó có thể bơi và vùng vẫy suốt đêm. Con quả nào khôn ngoan mấy cũng bị mắc lừa.
Buổi tối, chú mang câu thả dưới gốc sung; cuốn hai vòng dây câu vào một cành lớn, cách mặt nước chừng nửa mét, rồi buộc lại kiểu thắt nút quần. Giống cá rô sống dai, nhiều con mổ bụng, rút ruột rồi, nhưng khi thả xuống nước vẫn có thể bơi được. Do vậy, con mồi này của chú sẽ tạo ra một vòng tròn trên mặt nước, đường kính gần nửa mét, khuấy nước suốt đêm, làm kinh động đến tận “thủy cung” dưới gốc sung. Bị khuấy động, không ngủ được; chắc chắn con quả phải mò ra xem kẻ nào dám hỗn xược, làm kinh động đến “long cung” của nó: Hóa ra chỉ là một thằng rô nhãi nhép -miếng mồi điểm tâm ngon lành cho cái dạ dày đang còn lép kẹp của nó.
Dặn hai chiến sỹ thường đi bắt tôm cá với chú trước khi đi ngủ. Sáng hôm sau, chú đánh thức họ dậy sớm hơn thường lệ để ra thăm câu. Thật là hồi hộp. Từ xa, chú đã thấy sóng nước dưới gốc sung; cành sung buộc đây câu cứ rung lên phần phật. Không ai bảo ai, cả ba đồng loạt lao nhanh về phía cây sung như cố để xem, ai là người tận mắt nhìn thấy con quả trước. Chú không thể tin vào mắt mình nữa: Con quả không phải ba kilô như chú dự đoán. Nó to hơn nhiều. Cái thân dài đần đẫn, cái đầu to bè bè. Khi thấy người, con quả quật đuôi rất dữ tợn, nước bắn tung tóe lên tận bờ cỏ. Được tận mắt nhìn thấy con quả to như vậy, hai chiến sỹ kia cũng không khỏi lúng túng:
- Làm thế nào hở anh?
- Cứ bình tĩnh, đừng làm nó kinh sợ. Để anh tính toán cái đã!
Loay hoay đến năm sáu phút, chú mới nghĩ ra được phương án đưa con quả lên bờ an toàn: Cởi chiếc quần dài đang mặc, buộc chặt hai ống. Chú bơi nhẹ nhàng đến chỗ con quả.
Thấy động, con quả quật đuôi càng mạnh. Sự tính toán kỹ càng của chú quả là không thừa. Con quả có khỏe đến mấy cũng không thể thoát ra được với cái lưỡi câu thép vừa to, vừa cứng và sợi dây dù tết ba có sức chịu tải tới chục kilô. Sau một hồi vật lộn, cuối cùng, chú cũng lừa đưa con quả nằm gọn trong ống quần. Con quả cố sức vùng vẫy để thoát ra. Nhưng trong cái khoảng không quá chật hẹp của cái ống quần như vậy, sức mạnh dưới nước của nó không còn phát huy được là mấy. Thít chặt đầu trên, chú hò hai chiến sỹ đến giúp sức. Một chiến sỹ leo ra cành sung tháo dây câu, một chiến sỹ bơi ra cùng chú đưa con quả vào bờ. Thành công ngoài sự mong đợi: Con quả dài đến gần một mét, mình to vừa bằng hai chẹt tay.
Tìm một cành cây dài làm đòn. Hai chiến sỹ khiêng con quả như thể khiêng một con lợn con.
__________________
Ласковый Май
|