TRUYỆN CÁ QUẢ - Chú Biên - Nguyễn Hữu Hùng
Chảy men theo vách đá vôi là một con suối nước trong vắt, uốn khúc vòng vèo như một con trăn khổng lồ. Đoạn thì mất hút vào chân núi đá, đoạn thì phơi mình trên thung lũng, hai bên là bờ cát vàng phẳng lặng. Chỗ thì thắt lại, chiều rộng chỉ còn bốn năm mét; chỗ phìng ra tới cả chục mét. Và có cả một doi cát nhỏ ở giữa. Lội qua một đoạn, chỗ nước ngập đến đầu gối, chỗ nước ngập đầu người. Rồi chú cũng rút ra được quy luật của dòng chảy: Đoạn nước chảy xiết lại là đoạn nông nhất. Ở đấy, có thể nhìn thấy tận đáy những hòn đá cuội to, nhỏ, đen, trắng, vàng, nâu đủ mầu; xếp chen chúc nhau, như cố tình ngăn dòng nước lại. Những đoạn nước chảy lững lờ, thường rất sâu. Muốn lội qua phải dò từng bước; bước hụt, bị chìm nghỉm như chơi. Những đoạn suối ăn sâu vào trong vách núi thường tạo ra cả một vùng nước rộng, chỉ thấy một màu xanh thăm thẳm.
Sức mạnh kỳ diệu của thiên nhiên đã tạo ra những vách đá vôi, như có bàn tay của con người sắp đặt những viên đá thành tầng tầng, lớp lớp; dựng đứng cao tới vài ba trăm mét. Chơi với giữa vách đá vôi lộ ra những vòm hang sâu thẳm, đủ sức chứa cho cả trăm người; nhưng chỉ có các loài biết bay như chim, dơi hoặc lũ vượn, khỉ có tài leo trèo mới có thể tiếp cận được. Vươn lên bầu trời xanh thẳm, nhấp nhô những chỏm núi đá tai mèo với đủ mọi hình dạng: hình người mẹ bồng con, hình kim tự tháp v.v., thả sức cho trí tưởng tượng của con người.
Cái nắng, cái gió ở dải đất miền Trung, từ xứ Nghệ trở vào, nhất là những vùng giáp Lào thật nghiệt ngã. Mới chỉ tháng tư tháng năm; trời đã bắt đầu oi bức, nhiệt độ ngoài trời thường ba chín bốn mươi độ.
Câu hò “Chang chang cồn cát nắng trưa Quảng Bình” mới chỉ khắc họa một phần cảnh nắng nóng ở vùng cát trắng ven biển, chưa thấm gì với cái nắng, cái gió ở sườn đông của dãy Trường Sơn. Ngoài cái nắng như thiêu như đốt, rừng Trường Sơn nơi đây còn phải gánh chịu một thứ gió nữa: “Gió Lào”.
Mùa gió Lào bắt đầu từ tháng tư. Gió được hình thành từ vịnh Thái Lan, mang theo những đám mây đầy hơi nước, theo hướng đông bắc, bay vào lục địa. Bị chặn lại ở dãy Trường Sơn Tây, trút hết những hạt nước mát mẻ xuống nước bạn Lào. Tràn sang Trường Sơn Đông trên đất Việt Nam; chẳng còn gì mang theo, ngoài hơi nóng bốc lên từ đất và đá do bị ánh nắng Mặt Trời mùa hè thiêu đốt.
Gió nóng thổi từng cơn ào ào như giông bão, làm táp lá những bụi cỏ lau, cỏ tranh; làm kiệt quệ sức sống của mọi sinh vật. Mới tám chín giờ sáng mà nhiệt độ ở ngoài trời đã lên đến ba chín bốn mươi độ. Không khí vào giữa trưa càng trở nên ngột ngạt và nóng bỏng hơn.
Để tránh cái nắng hầm hập và gió nóng ở rừng Trường Sơn, các chú phải dậy đi khảo sát thực địa từ sớm tinh mơ. Buổi trưa, tìm một nơi mát mẻ để tránh nắng và tránh gió.
Từ xa, chú phát hiện ra một cây cổ thụ, cành lá xum xuê, xanh mướt ở bên bờ suối. Đến nơi, chú nhận ra: cây sung -loài cây quen thuộc thường được trồng ở bên bờ ao của vùng quê chú. Gốc cây xù xì, ba bốn người ôm không xuể. Cành ngả rạp xuống một vực nước sâu, tán rộng đến bốn năm chục mét vuông. Có lẽ vùng này có nhiều cây sung, nên trên bản đồ địa hình 1:50.000 có đánh dấu một bản, tên là xóm Cây Sung.
Mắc võng trên cành của cây sung cổ thụ, lấy lương khô ra ăn, ngắm cảnh thiên nhiên hoang dã ở một thung lũng kín gió, thật dễ chịu. Vòm lá sung rậm rạp và xanh mướt, chắn hết mọi tia nắng nóng bỏng của Mặt Trời. Những vách đá vôi cao sừng sững chắn những luồng gió khô và nóng từ đất Lào thổi sang. Dòng nước xanh mướt chảy từ trong hang đá vôi, tỏa hơi nước mát lạnh vào bầu không khí, chẳng khác nào một chiếc máy “điều hòa” khổng lồ đặt giữa rừng Trường Sơn. Rồi nữa, sự có mặt của bọn chú ở đây cũng không làm lũ chim sâu, lũ chim trào mào trên vòm cao của cây sung sợ hãi. Chúng vẫn mải miết cãi vã, tranh giành nhau những quả sung chín mọng, nghe thật vui tai. Thỉnh thoảng, một vài quả sung rơi bộp xuống mặt nước, làm kích động đến sự háu ăn của lũ cá chày. Chúng nhao lên mặt nước và cũng tranh giành nhau chẳng kém gì lũ trào mào và chim sâu.
Bứt một vài quả sung chín ăn thử: có vị ngọt nhạt, giống như những quả sung ở vùng quê chú. Quả xanh cũng có vị chan chát, thái mỏng làm đồ nhắm hoặc muối dưa, ăn giòn chẳng kém gì cà pháo.
Bắt chiếc lũ chim trào mào, các chú bứt những quả sung chín ném xuống nước. Từng đàn cá chày, to cỡ bắp tay nhao lên, ngoặm cả quả rồi biến mất trong làn nước suối trong vắt. Chú bảo với hai chiến sỹ:
- Suối này nhiều cá tôm đây. Phải tìm cách cải thiện cho anh em thôi!
Trở về hang đóng quân, báo cáo tình hình khảo sát thực địa với tiểu đội trưởng, chú bàn luôn phương án cải thiện bữa cơm cho anh em. Vì một lẽ, từ hôm chuyển quân vào đây, đơn vị chưa được tiếp tế thực phẩm. Mấy bữa liền, chỉ có rau rừng và măng tươi luộc chấm với mắm ruốc. Đã có hai chiến sỹ trong tiểu đội bị sốt rét, nằm liệt trên võng. Lẽ dĩ nhiên, chú tiểu đội trưởng ủng hộ và còn cử thêm hai chiến sỹ giúp chú nữa.
Chú vào rừng, chặt một cây nứa bánh tẻ, cỡ cổ chân, làm ba cái rọ bắt tôm. Buổi tối, chú cùng hai chiến sỹ mang theo đèn pin, rọ bắt tôm, dao phát rừng và cả cái xoong quân dụng to tướng ra bờ suối. Hai chiến sỹ đi cùng là người Hà Nội. Những việc như thế đối với họ là lạ lẫm, có phần vừa thích thú, vừa tò mò nữa. Cầm chiếc đèn pin ba cục rọi xuống suối, chú chỉ cho hai chiến sỹ những con tôm, con cua, cá bống hoa ẩn mình trong các khe đá, giữa những hòn đá cuội. Một chiến sỹ vừa trông thấy một con tôm, giơ tay chộp ngay, nhưng con tôm đã biến đi chỗ nào mất tăm.
Chú giảng giải cho hai chiến sỹ:
- Không dễ bắt như thế đâu. Muốn bắt được tôm phải nhanh tay, nhanh mắt, chộp nó từ phía đuôi. Cái giống tôm thường chạy trốn kẻ thù bằng cách co cái thân nhiều đốt, dùng tấm phiến đuôi như bánh lái thuyền, đẩy nước, bật mạnh, giật lùi về phía sau. Nhưng tốt nhất và hiệu quả nhất là một tay cầm rọ chắn ở phía đuôi, tay kia lật hòn đá hoặc đánh động ở phía đầu con tôm.
Nói xong, chú làm động tác mẫu cho hai chiến sỹ xem; chỉ một loáng, chú đã tóm gọn hai con tôm vào trong rọ.
Chú phân công hai chiến sỹ đi cùng nhau: người rọi đèn, người bắt. Chú không cần rọ, một tay soi đèn, một tay bắt. Chỉ trên đoạn suối khoảng hai mươi mét, chú tóm được cả chục con: nào tôm, nào cua và cả một con bống hoa cỡ đầu ngón tay.
Hai chiến sỹ kia loay hoay mãi mới tóm được một chú tôm càng chậm chạp. Nhưng công việc rồi cũng quen dần. Số tôm, cua, cá bắt được mỗi lúc một nhiều. Thấy việc bắt tôm của hai chiến sỹ kia tốt rồi, chú dặn họ cứ bắt ở đoạn suối này đợi chú.
Cầm đèn pin và con dao quắm, chú ngược lên phía thượng nguồn con suối để tìm cá ngủ. Chú đoán: suối này sâu, nhiều tôm, cua, cá; chắc có cá to?
Chỉ cách đoạn hai chiến sỹ đang bắt tôm hai trăm mét, chú đã phát hiện ra một con quả, cỡ bắp tay, đang ẩn mình trong một hốc đá; một con chép to hơn bàn tay người lớn, đang nép mình sát bụi cỏ.
Hồi ở quê, đêm nào chú cũng đi soi cá ngủ và bắt ếch nhái. Với cái đèn pin đội trên đầu, chiếc lao tự chế; một đêm chú cũng kiếm được vài ba kilô, lẫn lộn cá, ếch, chão chuộc. Hôm nào gặp may, tóm được cả rắn hổ mang, bán khối tiền.
Tục ngữ có câu: “Tôm nhập nhoạng, cá rạng đông”. Đúng là khi trời sắp tối, đa phần các loài cá nước ngọt đi tìm một chỗ nào kín đáo để ngủ cho ngon giấc; tảng sáng hôm sau mới dậy đi kiếm ăn. Còn loài giáp xác như tôm, cua; chập choạng tối mới mò đi kiếm ăn. Cho nên, đánh bắt tôm nên đi vào lúc nhập nhoạng tối, đánh bắt cá nên đi vào lúc sáng tinh mơ. Lũ ếch nhái thì ngược lại. Ban ngày núp trong hang sâu, hoặc ẩn mình trong các bụi cỏ rậm, đợi trời tối mới mò đi kiếm ăn, tìm kiếm côn trùng, sâu bọ và đi tìm bạn tình. Lũ sâu bọ cũng có tập tính: ẩn mình trong các lớp đất xốp dưới gốc rau, bụi cỏ; tránh sự săn lùng của lũ chim sâu; đêm đến mới bò lên, uống nước từ các giọt sương và tìm những búp rau non để thưởng thức sau một ngày dài phải nhịn đói.
Đó là quy luật tồn tại của muôn loài trong tự nhiên.
__________________
Ласковый Май
|