TRUYỆN CÁ QUẢ - Chú Biên- Nguyến Hữu Hùng
CHÚ BIÊN
Chú Biên cao rong rỏng, có lẽ đến mét bảy lăm. Khi nhà tôi chuyển về ở khu tập thể này, tôi đã thấy chú Biên làm việc ở đây rồi. Các cô, các chú trong nhà máy gọi chú với cái tên: “Biên Cầu Tõm”. Lúc đầu tôi cứ ngỡ, chắc nó cũng giống những cái tên biệt danh mà bất cứ đứa trẻ con nào trong số chúng tôi ở khu tập thể như: Hà Mít (cái Hà béo tròn như hạt mít); Trang Lỳ (cái Trang tính tình lỳ lợm); Vân Mắm (cái Vân vừa gầy lại vừa đen như con cá mắm); Hà Sên (thằng Hà làm cái gì cũng chậm chạp như sên) v.v. và v.v., theo những đặc điểm, tính cách riêng của từng đứa. Mãi sau này tôi mới hiểu cái tên “Biên Cầu Tõm” không hoàn toàn như vậy. Tất cả những người dân quê ở vùng đồng chiêm trũng của tỉnh Hà Nam cũ, ra tỉnh ngoài đều được gọi là dân “Cầu Tõm”. Do vậy, các cô, các chú công nhân trong nhà máy gọi “Biên Cầu Tõm” có hàm ý: chỉ chú Biên là người Hà Nam, và cũng có ý trêu chú; dựa vào một thói quen trước đây: người dân ở vùng chiêm trũng thường vệ sinh xuống sông, xuống ruộng. Vì vậy mới có tích truyện: buổi tối ra sông rửa khoai, mười củ thành mười một củ trong rổ, lại có mùi thôi thối...
Chú hoàn toàn không tự ái với cái tên “ Biên Cầu Tõm”. Ngược lại, chú còn tự xưng với bố mẹ tôi, khi gia đình tôi mới chuyển về đây:
- Em là dân “Cầu Tõm” đây mà! Anh chị ở Xuân Thủy à! Đồng hương với em đấy (Ngày ấy: Hà Nam và Nam Định thuộc cùng một tỉnh gọi là Nam Hà; Xuân Trường và Giao Thủy thuộc cùng một huyện, gọi là Xuân Thủy). Đó là cái ngày đầu chú Biên làm quen với gia đình tôi.
Tính tình chú vui vẻ, rất có duyên kể chuyện, trong giọng chú còn có chút khôi hài nữa. Đôi khi chú kể những câu chuyện mà tôi thấy thật vô lý và còn buồn cười nữa:
- Chú đố các cháu biết người dân Quảng Bình gọi bố mẹ là gì nào?
Thằng Long Búa Liềm, cậy có bố là người miền Nam, tỏ ra hiểu biết:
- Gọi bố là ba, gọi mẹ là má có phải không chú?
- Sai bét! Dân Quảng Bình gọi bố là bọ, gọi mẹ là mạ. Nên có chuyện: Một người con gái Quảng Bình, hỏi anh con trai người Bắc:
- Bọ mạ ở quê ăn (anh) gọi là gì?
Người con trai miền Bắc tủm tỉm cười:
- Gọi là giòi bọ chứ là gì nữa?
- Thế thì khi nào ăn (anh) về ngoài Bắc, cho em gửi lời thăm giòi bọ hè!
Thằng Long Búa Liềm phản ứng lại ngay:
- Chú chỉ có bịa!
Chú cười và bảo:
- Nếu các cháu không tin thì về hỏi lại bố mẹ các cháu!
Tôi cũng đồng tình với ý kiến của thằng Long Búa Liềm và cho rằng, chú bịa một trăm phần trăm có dư. Nhưng khi về nhà hỏi bố; bố tôi bảo:
- Chú Biên nói đúng đấy. Ngôn ngữ địa phương của dân Quảng Bình là như thế!
Bố còn giảng giải:
- Cái bát ăn cơm, người dân Nghệ Tĩnh gọi là cái đọi; người miền Nam gọi là cái chén; chẳng nơi nào giống nơi nào.
- Còn câu chuyện anh bộ đội miền Bắc nọ, nói với cô thanh nữ Quảng Bình kia rằng: “Ngoài Bắc gọi bố mẹ là giòi bọ” cũng chẳng phải chú Biên bịa ra. Đó là chuyện phiếm của cánh bộ đội người ngoài Bắc. Họ sáng tác ra để trêu chọc đám thanh niên người Quảng Bình. Ai đi bộ đội, hoặc thanh niên xung phong trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ, đóng quân ở tuyến lửa Quảng Bình, đều được nghe và thuộc những câu chuyện truyền miệng đại loại như:
- Con kỷ niệm lại cho bọ bộ tăng-võng hoặc cái bi đông nác (nước) cũng được! Mùa hè có bộ tăng-võng của con, mắc lên cây ngủ sướng lắm. Đi làm đồng có cái bi đông Trung Quốc đựng nác (nước) chè xanh uống cũng bõ khát. Đi vô Nam, đằng nào cũng con cũng hy sinh; còn nếu được ra Bắc, con có điều kiện xin cấp cái khác.
Anh bộ đội miền Bắc láu cá, nói với bọ:
- Bọ ơi! Con chẳng phải đi vô và cũng chẳng được đi ra; con được lệnh đi ngang ngang thôi!
Quê chú đồng chiêm trũng. Vào mùa mưa, nhà nọ sang nhà kia phải đi bằng thuyền mủng; nhưng được cái nhiều cá, tôm, cua, ốc. Vì thế, từ nhỏ; chú đã biết đơm đó, soi cá, bắt ếch nhái; câu cá rô, cá diếc. Nhưng chỉ có câu cá quả là thú vị và kiếm ra tiền.
Nhà nghèo, hết lớp 4, chú phải thôi học, ở nhà đi câu cá kiếm sống và giúp đỡ gia đình. Hàng ngày, với chiếc cần câu và cái thúng đan bằng tre, sơn kín cả trong lẫn ngoài, đựng nước không bị rò; cá câu được thả vào trong đó.
Chú lang thang hết cánh đồng này, sang cánh đồng khác của miền quê Bình Lục, Thanh Liêm, Ý Yên, Vụ Bản; rồi vào tận trong Ninh Bình, Thanh Hóa. Trước khi đi xa, chú chuẩn bị cẩn thận những đồ dùng thiết yếu: bàn chải, thuốc đánh răng, một miếng xà phòng Liên Xô 77%, một bộ quần áo lót; một bộ quần áo dài; một chiếc màn đơn; một cuộn dây nylon năm mét; một miếng áo mưa, khoảng mét tư. Tất cả cho vào túi nylon, buộc trên nắp thúng sơn. Chú sắm một đôi dép tông Thái xịn. Dép tông Thái vừa nhẹ vừa bền, rất tiện lợi: lội ruộng thì bỏ lên mặt thúng câu, trên đường khô ráo thì xỏ vào đi, tắm sông thì lấy ra kỳ lưng, tối ngủ dùng đi rửa chân ... Một con dao nhíp bỏ gọn trong túi quần; một chiếc khăn tay bông khổ to, vừa dùng rửa mặt, vừa dùng để tắm, vừa để trùm gáy cho mát khi đứng câu ngoài trời nắng. Chiếc nón mê đan bằng tre, tuy có nặng đôi chút nhưng cực bền, thoải mái cho mưa nắng dãi dầu và có thể dùng để múc nước khi cần.
Chú nghiện thuốc lào, nên chiếc điều cày cũng được giành một chỗ thích đáng: làm hai chiếc vòng giây thép, buộc vào sườn thúng. Khi hút chỉ việc nhấc điếu ra, hút xong lại dựng vào.
Trong người chú lúc nào cũng có một lọ cao con hổ, một cuộn băng, một gói bông sạch, một vỉ thuốc kháng sinh tetraxilin, mươi viên thuốc ankitamon phòng cảm cúm.
Cá câu được thả vào thúng sơn. Cái giống cá quả sống dai. Thả vào thúng sơn, đổ nước xâm xấp đến mình cá, không cần cho ăn, cá quả có thể sống hàng tuần. Một ngày chú câu được từ bốn đến năm con. Hôm nào gặp may, câu được cả chục. Con nhỏ từ hai đến ba lạng; con to từ nửa cân đến cân rưỡi, hai cân. Trong cái thúng sơn của chú, lúc nào cũng có tới cả chục con cá quả lớn nhỏ. Cá quả to từ nửa cân trở lên, được giá và dễ bán. Người sành ăn thường mua về nấu cháo. Những bà mẹ nuôi con nhỏ mua làm ruốc bông. Vì vậy, cá câu được chú bán hết ngay cho khách dọc đường. Hai ba hôm; chú tạt vào chợ bán cho những người buôn cá. Tuy có rẻ một chút, nhưng người ta mua cả mớ, kể cả con to, con nhỏ. Tối ngủ nhờ nhà dân. Người dân vùng nông thôn đôn hậu, thật thà, chất phác, quý người và thông cảm với hoàn cảnh của chú, nên không bao giờ lấy tiền ngủ. Để đáp lại lòng mến khách của họ, chú biếu gia chủ một vài con quả. Họ còn nấu cơm cho chú ăn mà không lấy tiền gạo, tiền củi.
Năm chú tròn mười bảy tuổi, cũng là thời kỳ đánh phá ác liệt nhất của máy bay Mỹ ra miền Bắc. Dù chưa đến tuổi đi nghĩa vụ quân sự, nhưng trong không khí sôi sục của tuổi trẻ lên đường đi đánh Mỹ, chú xung phong đi bộ đội.
Đứng giữa hàng quân tân binh năm ấy, chú là người trông già dặn nhất: nước da bánh mật dãi dầu mưa nắng, nét mặt khô đanh. Chỉ thoáng qua, người sỹ quan về huyện tuyển quân đã nhận ra chú là người từng trải, chỉ định chú phụ trách tạm thời đoàn tân binh trên đường về nơi đóng quân.
__________________
Ласковый Май
Thay đổi nội dung bởi: Siren, 07-07-2010 thời gian gửi bài 07:10
|