View Single Post
  #103  
Cũ 03-07-2010, 20:14
MIG21bis MIG21bis is offline
Salat Nga - салат Оливье
 
Tham gia: Jun 2010
Bài viết: 221
Cảm ơn: 587
Được cảm ơn 536 lần trong 134 bài đăng
Default

Em gửi bác cái danh mục MIG21 để bác tham khảo chút chơi. Em sau này có Nét mới biết nó lắm thế này. Hồi đi học đâu như giới thiệu chưa tới chục loại. Các cụ khuân máy bay Xi cơn hen về thì đủ các nguồn ở các nước anh em cũ nên lính ta liệu cơm gắp mắm rồi cũng ổn như em trình bầy với bác ở phần trên.

Ye-2 (NATO: "Faceplate")
Nguyên mẫu cánh xuôi.
Ye-4 (I-500)
Nguyên mẫu cánh tam giác đầu tiên của MiG-21.
Ye-5 (NATO "Fishbed")
Nguyên mẫu nghiên cứu cánh tam giác.
Ye-6
Mẫu tiền sản xuất thứ ba.
MiG-21
Máy bay tiêm kích thành phẩm đầu tiên.
MiG-21F (NATO: "Fishbed-B")
Máy bay tiêm kích ngày 1 chỗ. Đây là máy bay sản xuất đầu tiên, với 40 chiếc được chế tạo. MiG-21F mang được 2160 lít nhiên liệu trong 6 thùng nhiên liệu và trang bị 1 động cơ phản lực Tumansky R-11 với lực đẩy là 5740kgf, vũ khí gồm 2 khẩu pháo 30-mm NR-30 60 viên/khẩu, nó cũng có khả năng mang 2 quả bom từ 50 đến 500 kg mỗi quả. Nguyên mẫu Ye-6T được đổi tên thành MiG-21F.
Ye-50
Nguyên mẫu nghiên cứu cánh xuôi.

MiG-21M

Ye-66
Phiên bản 1 chỗ, chế tạo để phá kỷ lục tốc độ thế giới.
Ye-66A
Chế tạo để phá kỷ lục bay cao thế giới.
Ye-66B
Phiên bản tăng tốc bằng rocket, chế tạo để thiết lập kỷ lục nữ phi công với thời gian bay và độ cao đạt được .
Ye-76
Tên gọi sử dụng cho MiG-21PF để thiết lập kỷ lục tốc độ do phi công nữ thực hiện
Ye-150
Nguyên mẫu tiêm kích đánh chặn, về cơ bản là MiG-21 mở rộng.
Ye-152 (NATO "Flipper")
Lớn hơn MiG-21, the Ye-152 'Flipper' là một máy bay có hiệu suất cao, nó đã thiết lập 3 kỷ lục thế giới.
MiG-21F-13 (NATO "Fishbed-C")
Máy bay tiêm kích ban ngày tầm ngắn 1 chỗ. MiG-21F-13 là kiểu sản xuất hàng loạt đầu tiên. Nó được trang bị 1 động cơ phản lực Tumansky R-11, trang bị 2 tên lửa không đối không Vympel K-13 (AA-2 'Atoll'), và 1 pháo 30-mm NR-30 30 viên đạn. Type 74 là tên gọi của Không quân Ấn Độ cho kiểu MiG-21 này. MiG-21F-13 cũng được chế tạo tại Trung Quốc với tên gọi Chengdu J-7 hay F-7 cho xuất khẩu.

MiG-21

MiG-21FL
Kiểu xuất khẩu của MiG-21PF. Chế tạo theo giấy phép tại Ấn Độ dưới tên gọi Type 77.
MiG-21I (NATO "Analog")
Mẫu thử nghiệm thiết kế cánh của máy bay vận tải siêu âm Tu-144 (NATO: 'Charger').
MiG-21SPS
Phiên bản chế tạo cho Đông Đức.
MiG-21P (NATO "Fishbed-D / Fishbed-E")
Máy bay tiêm kích đánh chặn 1 chỗ, bị giới hạn theo mùa. Chỉ trang bị hai tên lửa không đối không.
MiG-21PF (NATO "Fishbed-D / Fishbed-E")
Máy bay tiêm kích 1 chỗ, bị giới hạn theo mùa, trang bị 1 radar RP21 Sapfir. MiG-21PF là kiểu sản xuất thứ hai. Nguyên mẫu Ye-7, Type 76 là tên gọi của Không quân Ấn Độ.
MiG-21PF (SPS) (NATO "Fishbed-E")
MiG-21PFM (NATO "Fishbed-F")
Máy bay tiêm kích 1 chỗ, bị giới hạn theo mùa, nâng cấp radar và một động cơ mạnh hơn. Phiên bản cải tiến của MiG-21PFS.
MiG-21PFS (NATO "Fishbed-F")
Máy bay tiêm kích 1 chỗ, bị giới hạn theo mùa, nâng cấp radar và một động cơ mạnh hơn.
MiG-21 (NATO "Fishbed-G")
Phiên bản thử nghiệm cất hạ cánh trên đường băng ngắn của MiG-21PFM. Có 2 động cơ nâng đặt trong thân được làm dài ra.

MiG-21 bay đội hình

MiG-21R (NATO "Fishbed-H")
Phiên bản trinh sát chiến thuật 1 chỗ của MiG-21PFM.
MiG-21RF (NATO "Fishbed-J")
Phiên bản trinh sát chiến thuật 1 chỗ của MiG-21MF.
MiG-21S (NATO "Fishbed-J")
Phiên bản tiêm kích đánh chặn 1 chỗ, trang bị radar RP-22 và súng gắn ngoài. (Tên gọi không chính thức của NATO là MiG-21PFMA); E-8, Type 88 tên gọi của Ấn Độ.
MiG-21SM
Phiên bản tiêm kích đánh chặn 1 chỗ, trang bị 1 động cơ Tumansky R-13-300.
MiG-21PFV
Phiên bản bay trên độ cao lớn (perekhvatchik forsirovannij visotnij, tiêm kích đánh chặn bay trên độ cao lớn).

MiG-21MF, Không quân Ba Lan, các ký hiệu của Phi đội chiến lược số 3.

MiG-21M
Phiên bản xuất khẩu với 1 động cơ Tumansky R-13. Tên gọi của Ấn Độ Type 96, nó cũng được chế tạo tại Ấn Độ.
MiG-21MF
Phiên bản xuất khẩu với 1 động cơ Tumansky R-13.
MiG-21MF (NATO "Fishbed-J")
Phiên bản tiêm kích đa chức năng 1 chỗ, trang bị radar RP-22, động cơ Tumansky R-13-300.
MiG-21MF-R
Sau khi MiG-21R ngừng hoạt động trong Không quân Bulgaria vào năm 1995, một nhóm kỹ sư đã trang bị cho MiG-21MF với những thiết bị trinh sát từ MiG-21R.
MiG-21SMT (NATO "Fishbed-K")
Phiên bản tiêm kích đa chức năng 1 chỗ, trang bị 1 động cơ Tumansky R-13. Tăng thêm khả năng chứa nhiên liệu và khả năng ECM. (E-9, block 94 và 96)
MiG-21bis (NATO "Fishbed-L")
Máy bay tiêm kích đa chức năng 1 chỗ. Kiểu sản xuất cuối cùng được chế tạo đến năm 1977 tại Nga và năm 1987 tại Ấn Độ. Phiên bản này trang bị động cơ Tumansky R-25-300, và mang 2880 lít nhiên liệu. Động cơ có khả năng đốt nhiên liệu phụ trội tăng thêm 3 phút - tăng lực đẩy từ 7100 kgf lên 9900 kgf. Nó có thể tăng tốc từ 600 km/h lên 1100 km/h trong 18 giây (MiG-29 thực hiện điều này trong 11,6 giây). Tốc độ bay lên là 225 m/s. Khi so sánh với F-14 có tốc độ bay lên là 152 m/s, MiG-17F là 65 m/s, và F-16A là 215 m/s.
MiG-21 bis (NATO "Fishbed-N")
Máy bay tiêm kích đa chức năng và tấn công mặt đất 1 chỗ.

MiG-21 bis-D Không quân Croatia

MiG-21U (NATO "Mongol-A")
Phiên bản huấn luyện 2 chỗ của MiG-21F-13. Type 66 là tên gọi của Ấn Độ.
MiG-21US (NATO "Mongol-B")
Phiên bản huấn luyện 2 chỗ . Type 68 là tên gọi của Ấn Độ.
MiG-21UT
Phiên bản huấn luyện 2 chỗ .
MiG-21UM (NATO "Mongol-B")
Phiên bản huấn luyện 2 chỗ của MiG-21MF. Type 69 là tên gọi của Ấn Độ.
JJ-7
Phiên bản huấn luyện 2 chỗ của J-7.
FT-7
Tên gọi xuất khẩu của JJ-7.
MiG-21-93 Bison
Phiên bản nâng cấp xuất khẩu và Ấn Độ là khách hàng đầu tiên. Vũ khí gồm radar cảnh báo Phazotron Kopyo (Spear), có thể theo dõi 8 mục tiêu và tấn công đồng thời 2 mục tiêu với tên lửa không đối không bán chủ động như Vympel R-27. Radar cũng có thể điều khiển được tên lửa không đối không chủ động như Vympel R-77 khi kênh bổ sung được hợp nhất. Người Nga khi quảng cáo đã tuyên bố rằng phiên bản này tương đương với F-16 đời đầu.

MiG-21 2000

MiG-21-97
Nâng cấp MiG-21-93. MiG-21-93 sử dụng động cơ Klimov RD-33. Người Nga đã tuyên bố rằng những đánh giá tại Sân bay Ramenskoye đã chỉ ra rằng phiên bản này giành chiến thắng trước F-16 trong không chiến mô phỏng với tỷ lệ 4:1.
MiG-21 Lancer
Phiên bản nâng cấp cho Không quân Romania được thực hiện bởi Elbit của Israel và Aerostar của Romania. Phiên bản Lancer-A có thể thực hiện tấn công mặt đất và sử dụng những vú khi dẫn đường chính xác cao của Nga cũng như của phương Tây như tên lửa không đối không R-60, R-73 và Python III. Phiên bản Lancer-B là phiên bản huấn luyện và phiên bản Lancer-C là phiên bản chiếm ưu thế trên không với 2 màn hình LCD MFDs, mũ hiển thị cho phi công và radar không chiến Elta EL/M-2032.[3]
MiG-21MFN
Phiên bản nâng cấp cho Không quân Séc (hệ thống dẫn đường và thông tin tương thích với tiêu chuẩn của NATO).

MiG-21MF

MiG-21bisD/UMD
Phiên bản nâng cấp vào năm 2003 cho Không quân Croatia với một số yếu tố của tiêu chuẩn Lancer. Phiên bản này được hiện đại hóa theo chu kỳ 10 năm, nhưng sẽ ngừng hoạt động vào năm 2011. Có thể sử dụng tên lửa chống tàu RBS-15F của Thụy Điển.
MiG-21-2000
Phiên bản xuất khẩu 1 chỗ cho thế kỷ 21. Được thực hiện bởi hãng Israel Aerospace Industries.

Thế hệ em học cái loại mà em đánh dấu đậm đó bác ạ ! Đó là trường Không quân Krasnoda còn trường không quân Phờ-run-gie tận Kirgizitan thì học Mig21MF ngay phía dưới chỗ in đậm dù cùng thời học với lứa bọn em.

Nguồn từ WIKI _ Internet

Thay đổi nội dung bởi: MIG21bis, 03-07-2010 thời gian gửi bài 20:20 Lý do: Lỗi chính tả
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 6 thành viên gửi lời cảm ơn MIG21bis cho bài viết trên:
Мужик (03-07-2010), hongducanh (04-07-2010), LyMisaD88 (04-07-2010), sonkinh (04-07-2010), TAY-USSR-MOSCOW (04-07-2010), USY (04-07-2010)