Tóm lại, vị ngữ phức hợp định danh составное именное сказуемое là gì?
Là khi nó được cấu thành bởi hai thành phần:
1. động từ nối быть-связа. Động từ này bị bỏ qua, bởi đây là thời hiện tại;
2. phần định danh именная часть, tức chỉ những đơn vị từ ngữ части речи tính danh. Trong tiếng Nga, các đơn vị từ ngữ định danh chỉ có: danh từ - имя существительное, tính từ - имя прилагательное, số từ - имя числительное. Trạng từ наречие không thuộc nhóm các đơn vị từ ngữ định danh này.
Vậy tại sao có thể nói trong thành phần vị ngữ phức hợp định danh là trạng ngữ, hay cái gọi là "слова категории состояния" - một thuật ngữ không được công nhận, không được phép xử dụng, chỉ để tham khảo?
|