NHỮNG BÔNG HOA BẤT TỬ- Olga Becgon
Tôi đứng lại trước ngôi nhà, trước cái cổng vặn vẹo, trước cây phong lớn đã nhìn tôi qua cửa sổ trong suốt thời thơ ấu của tôi và cứ sáng sáng lại khoác áo một màu xanh lam . Ngôi nhà vẫn còn nguyên vẹn, nhưng sao mà bé đi đến thế. Trông nó còn bé hơn cả khi chúng tôi ở U-gơ-lích trở về. Đúng thế, nhỏ bé đi nhưng vẫn còn nguyên vẹn, trong khi ngôi nhà con, ngay trước thì nó đã bung cả ruột gan ra ngoài. Tuy vậy, rõ ràng là cảnh đổ nát này không xảy ra trong trận bắn phá vừa rồi, cũng không phải vào ngày hôm nay vì không có cái gì đang cháy và cảnh điêu tàn cũng không còn bốc lên mùi tro lạnh. Đạn trái phá tuy vậy vẫn nổ hoài, không xa lắm. Có một lúc mặt đất nhảy chồm lên; lần này là một qủa bom và chắc chắn rơi cũng gần đây thôi. Ngay lập tức, các còi báo động nhất tề nổi lên, phát ra những tiếng gào thét khủng khiếp, điên cuồng, như tiếng gào của những mụ phù thuỷ. Một quả bom khác nổ, tiếp theo sau là tiếng rít ghê người trong khi trên không những vùng mây tròn trắng bạc phát ra những tiếng lọc ọc còn mạnh hơn là tiếng rít. Tôi lấy lại hơi. Sực nhớ ra rằng cần vĩnh biệt bà ngoại đang hấp hối. Và tôi bước vào căn nhà của chúng tôi .
Căn buồng, tôi nhớ rõ lắm từ khi còn thơ ấu ... một làn mờ đục lúc nào cũng phủ kín một mặt tấm gương đặt giữa hai cửa sổ, tấm gương đã mờ nước thuỷ sắp chết hẳn rồi, không còn phản chiếu được gì nữa. Do ánh sáng của phản quang những đám mây bạc đang gào thét kinh hoàng kia, trong buồng rất sáng, chỉ có một điểm tối thôi, trong một góc đó là bức tượng đồ sộ của thánh Ni-cô-lai mà chúng tôi đều khiếp sợ, hồi còn bé tí . Nó cũng chính là nguyên nhân đã khiến cho tôi hết mực bài bác thần thánh, khi gia nhập đoàn thanh niên Côm-xô-môn. Ngọn đèn đỏ quạch trước tượng thánh làm cho khuôn mặt kiêu kỳ và nghiêm trang của ông thánh dưới cái mũ giáo chủ từa tựa hình mái nhà thờ nổi hẳn lên trên nền đen, nom càng thêm sầu thảm và tàn nhẫn. Những cây xanh mà cũng thời kỳ tôi chủ trương bài bác thần linh ấy, tôi đã thù ghét kịch liệt không kém cũng nảy nở một cách gớm ghiếc, tưởng chừng đấy là những vật sống mà không biết liêm sỉ. Một mùi thơm, thứ mùi bị tôi quên bẵng hơn cả, tràn ngập căn buồng: mùi thơm buồn buồn và tinh khiết của hương trầm. Tất cả những thứ đó tôi cảm thụ trong một phần giây, trước khi nhận ra điều sửng sốt nhất: sự thanh khiết phi thường, hầu như trang trọng nữa, đang ngự trị trong căn buồng, và vẻ đường bệ giản dị không thể nào tin được của bà ngoại tôi trong phút lâm chung. Dì va-ri-a, vẫn trùm tấm khăn trắng có dấu chữ thập đỏ như bao giờ, đứng dưới chân bà tôi; dì vẫn làm việc ở bệnh viện ấy xưa kia là nhà thương A-lếch-xan-dra sau đổi thành Viện điều dưỡng vô sản, rồi nay lại là Bệnh viện quân khu, đủ biết là nơi gần mặt trận như thế nào!
Trông thấy tôi, dì ra đón, vẻ mặt rất bình tĩnh. Dì âu yếm hôn tôi và nói, giọng không cao không thấp, một cách hết sức ngạc nhiên :
- Bà còn tỉnh, được gặp cháu, chắc bà sẽ mừng lắm.
Tôi bỏ tấm khăn quàng xuống và lại gần giường bà ngoại. Một tiếng nổ dữ dội làm rung chuyển ngôi nhà nhỏ. Ngọn đèn ngủ đỏ quạch bắt đầu nhảy nhót trước khuôn mặt lạnh như tiền của ông thánh. Dì va-ri-a nhón chân sửa lại cho nó đứng im. Bà tôi nằm tựa lên chồng gối, đầu trùm một tấm khăn quàng trắng như những người đàn bà thôn quê. Khuôn mặt bà đã choắt lại, nhăn nhúm. Đôi mắt lõm sâu trong hai hốc mắt, nhưng từ trong đáy cùng của hốc mắt, đôi đồng tử tinh anh và sáng suốt vẫn sinh động hơn bao giờ . Cái làm cho tôi chú ý nhất là đôi bàn tay chắp lên ngực, đôi tay dường như to tướng, không cân đối , với những con tay thô nhám, xù xì vì những lớp chai và những đường gân xanh to quăn queo nổi hằn dưới da . Đấy là đôi tay của một người phụ nữ đã lao động đúng tám mươi năm trong số tám mươi bảy năm tuổi của mình, đôi bàn tay của một bà mẹ đã sinh đẻ, nuôi nấng, nâng giấc, dạy dỗ mười bốn đứa con cùng với một đám lốc nhốc những cháu cùng chắt, đôi tay đã sống dai hơn nhiều con cháu, và với đôi bàn tay ấy đã vuốt mắt, đã chôn cất và đã ném nắm đất đầu tiên xuống huyệt của nhiều đứa trong bọn chúng. Tôi nhìn khuôn mặt bé choắt mà hơi nóng đang lụi dần ấy, nhìn ánh mắt linh hoạt và đôi bàn tay to tướng ấy. Một cái gì trong tôi rung động một nỗi sợ hãi dâng lên và đột nhiên tôi nhận ra rằng trong suốt đời mình, chưa bao giờ tôi làm một việc gì tốt lành, chưa bao giờ tôi nói một lời hiền từ với bà ngoại, người bà có đôi mắt sống động, đôi bàn tay to tướng này . Làm lại có thể như thế được nhỉ ? Làm sao mọi việc lại diễn ra như vậy ? Tôi chợt nhớ lại thời bà ngoại cho tôi đi tắm hơi, bà đã cẩn thận cho tôi ngồi vào cái chậu đầy “ nước rất chi là mát ” như thế nào, bà đã mút bọt xà-phòng bắn vào mắt cháu ra làm sao. Tôi nhớ chiếc bánh sừng bò đen thui, ngọt một cách kỳ diệu mà bà mua cho trước khi ra về, ở ngay trước cửa nhà tắm, hay là cốc kơ-vát chua chua mà bà cho uống. Còn tôi? Tôi đã làm gì cho bà ngoại, cho dì Va-ri-a, cho ba tôi? Chẳng làm gì hết T ôi không có thì giờ mà. Đầu óc tôi còn bận bịu vì những chuyện khác cơ : kế hoạch năm năm lần thứ nhất, những công trường mũi nhọn, việc học tập chủ nghĩa Mác, cuộc đời riêng của mình và việc bước đi bước nữa. Với tôi một người đang lo chuyện xây dựng xã hội mới, thì những người thân trong gia đình không có ý nghĩa gì to lớn lắm! Bà ngoại, những cô, những dì, các buổi lễ tết trong gia đình cùng những nỗi băn khoăn kiểu tư sản của những con người ấy có mang lại gì cho tôi đâu? ...
__________________
Ласковый Май
|