Mấy hôm nay nắng nóng, mất điện liên miên. Tôi nghĩ trong hoàn cảnh này nên đưa lên bài viết về những năm tháng hay mất điện không thể nào quên.
TRƯỜNG CA MẤT ĐIỆN
Lâu nay ta quên dần chuyện mất điện.
Cái từ “mất điện” ở Việt Nam bây giờ có thêm một nghĩa bóng nữa ngoài nghĩa đen là dùng để ám chỉ ai đó chịu thua, hết đường cãi. Nghĩa này chắc chắn những người Việt xa xứ sẽ không thể hiểu, giống như các từ “lăn tăn”, “bắt giò”...
Ở đây tôi xin kể về mất điện theo nghĩa đen.
Tự nhiên như nhiên đèn tắt phụt. TV tối om. Riêng cái quạt trần thì cố quay thêm dăm vòng, như thể tiếc nuối một cái gì đó, tần ngần lưu luyến. Nói văn chương ví von thế, chứ thầy giáo vật lý thì biết dùng cái quạt điện trên đây làm ví dụ cho bài dạy về quán tính.
Cả nhà bỗng nóng rực. Nhà ai có máy phát điện dự phòng thì bố con ý ới gọi nhau đi khởi động máy nổ. Khói và tiếng ồn được ưu tiên giành cho hàng xóm.
Ở Việt nam, mất điện là một hiện tượng bình thường. Và người Việt có khả năng cam chịu rất tốt. Vừa mới bị cúp điện, bạn có thể thò đầu qua cửa sổ hỏi xem hàng xóm có bị mất không, hàng xóm bảo mất cả dãy, thế là cuộc tán phét liên cửa sổ bắt đầu, giờ này qua giờ khác, rôm rả cười vui.
Tôi nói mất điện là chuyện bình thường bởi nó hay xảy ra, chứ nó chả bình thường tẹo nào. Hãy tưởng tượng một cô phát thanh viên xinh đẹp đang cho đầu vào cái nồi cơm điện to đùng trong hiệu làm đầu, bộ tóc đang trên tiến trình đến chỗ xoăn xoăn theo dự định, thì... xèo, mất điện. Nếu cô phát thanh viên đó là người vui tính, cô ấy hoàn toàn có thể biến cái đầu “nửa xoăn” của mình thành một kiểu tóc mới và lăng xê nó trên màn ảnh truyền hình trong cả nước.
Còn cái lò nướng bánh thì sao nhỉ? Cái máy tính của nhà nghiên cứu, cái mẻ luyện kim sắp ra lò v.v. thì ai lo?
Bạn hãy tưởng tượng cảnh rạp chiếu phim bỗng nhiên mất điện, mấy trăm con người mò mẫm chen nhau thoát ra ngoài như thế nào. Và tưởng tượng thêm là có tiếng cô gái chỗ này chỗ khác kêu ré lên: “Thằng mất dạy!”. Mấy thằng mất dạy đã không để đôi tay của mình rỗi rãi, tranh thủ du ngoạn vào một đôi chỗ trên cơ thể cô gái…
Riêng những người làm trong ngành điên nặng điện thì không sao hết. Họ thường hay kéo về nhà một đường ưu tiên (làm nghề nào ăn nghề nấy). Ai mất thì mất, nhà họ luôn có điện theo đúng khẩu hiệu của ngành: “Dòng điện không bao giờ mất”.
Hồi những năm chiến tranh và sau chiến tranh khoảng mươi lăm năm, cái thời việc có điện là chuyện hiếm hoi (dòng điện không báo giờ mất), nhà anh thợ điện đầu phố tôi lúc nào cũng có điện. Trong bóng tối mênh mông bao trùm, ánh sáng đèn nhà anh ta giống như một sự trêu tức trường kỳ. Người ta tức trong sự thèm muốn.
Mất điện, không cách nào ngồi nổi trong căn buồng chật chội hầm hập, dân tình đổ ra vỉa hè ngồi. Tuy vỉa hè hấp hơi hầm hập suốt ngày, nó vẫn còn mát hơn trong nhà. Anh nào sang thì mang cái đài bán dẫn chạy pin ra mở nghe tình hình trong nước và thế giới. (Tôi xin mở ngoặc một chút: hồi đó khó kiếm pin tiểu, nhiều người dùng pin đại, lấy dây cao su buộc vào phía sau lưng cái đài bán dẫn. Đài bán dẫn luôn bụng mang dạ chửa, song không bao giờ đẻ). Đa số quần chúng còn lại thì nói chuyện vặt, cũng là nói về tình hình trong nước và thế giới mà thôi. Một tay phành phạch cái quạt, tay kia gãi bật máu những đám rôm phân bổ khá đồng đều trên cơ thể. Nói thế có nghĩa là một đôi chỗ kín cũng cần được gãi, chủ nhân của đám rôm không nhất thiết phải giữ ý quá nhiều.
Ngồi một lúc nóng quá, người ta lần lượt chạy vào nhà múc vài xô nước, dội ào một cái cho mát. Những khi như thế, nếu có một cốc nước chanh đường và dăm cục đá thì thật là tuyệt. Song ta phải biết điều tiết, vì cả tháng mỗi người chỉ được mua có mấy lạng đường, loại đường tuy tên là trắng nhưng hầu hết mang màu nâu vàng thơm thơm mùi mía. Thời gian khổ ấy, ít ai bị bệnh đái tháo đường, thừa mỡ và đạm trong máu như ngày nay.
Gia đình tôi có căn phòng 16 mét vuông, cộng thêm cái vi-ran-đa khoảng 6 mét vuông nữa vị chi là 24 mét vuông mà có tới 9 nhân khẩu. Chúng tôi thưng cái vi-ran-đa lại, biến nó thành “phòng khách”, kiêm chức năng phòng khám bệnh để mẹ tôi chữa bệnh ngoài giờ, cụ có nghề châm cứu và chữa trĩ ngoại rất giỏi. Trên vi-ran-đa là gác xép số một, cha mẹ tôi ngủ ở gác xép đó.
Đã nói đến gác xép một thì tất nhiên phải có gác xép số hai. Gác xép hai ở buồng trong, nó chiếm khoảng hai phần ba diện tích căn phòng, là căn cứ địa cách mạng của hai vợ chồng và hai đứa con chúng tôi.
Bà ngoại tôi, chú em và cô em gái con bà dì ngủ ở “tầng một” phòng trong, cùng với một cái xe máy và bốn cái xe đạp, chưa kể những đồ đạc linh tinh khác do sợ mất cắp mà tối nào cũng phải mang vào nhà, ban ngày mới mang ra.
Tôi có người bạn thân làm công nhân ngành cầu đường. Máy bay Mỹ ném bom trúng một nhịp cầu. Cấp trên ngành đường sắt ra lệnh cắt bỏ vai cầu (bây giờ ta còn thấy cầu Long Biên mất một đoạn vai). Anh bạn tôi cắt cho tôi một khúc dài gồm bốn thanh cooc-ne áp lưng vào nhau, gỡ đinh ri vê ra, tôi có được bốn dầm gác xép tuyệt hảo. Chạy chọt mua được mấy cái hòm gỗ về gỡ ra làm sàn, mặt dưới của nó bây giờ đóng vai trò trần nhà cho “tầng dưới”, tôi sơn một màu xanh nhạt trông khá dịu mắt.
Mùa đông nằm trên gác xép rất ấm. Mùa hè nó lại càng… ấm!
Hồi đó làm việc hai tầm, khoảng năm giờ rưỡi chiều tôi đi làm về đến nhà. Dựng chân chống xe máy, cởi bỏ bộ quần áo ngoài xong, việc đầu tiên phải làm là lau gác xép. Lau chỗ này thì chỗ vừa lau đã khô cong. Việc lau này nhằm mục đích làm sạch bụi trên gác xép là chính. Việc quan trọng tiếp theo là nhúng nước ướt sũng một cái chăn len dày, trải lên sàn gác xép. Bạn sợ chưa? Nhưng thế chưa ăn thua đâu bạn ơi, tôi còn phải nhúng ướt cả cái màn (mùng chống muỗi), treo nó lên như ta vẫn treo màn khi đi ngủ nữa cơ.
Đến tầm mười giờ rưỡi tối, cả cái chăn len và cái màn đã khô hoàn toàn. Nhiệt độ trên gác xép hạ xuống gần bằng dưới nhà, đủ để có thể ngủ nếu có sự trợ giúp của hai cái quạt tai voi chạy xành xạch suốt đêm.
Trong khi chờ đợi chăn và màn khô, dù có điện hay mất điện, tôi vẫn phải chở hai đứa con lên Hồ Tây hưởng gió mát, khoảng 10 giờ mới cho chúng về đi ngủ. Cũng có hôm Hồ Tây đứng gió, tôi cho xe chạy lòng vòng, đứa con lớn ngồi phía sau, đứa nhỏ đứng phía trước, cùng cái bình xăng xe Babetta, người bạn thân thiết của tôi trong hơn mười năm vác mỏ hàn đi chinh chiến với những cái Ti Vi hỏng ở khắp nội ngoại thành Hà Nội.
Những hôm mất điện, tôi hầu như suốt đêm gà gật, luôn tay quạt cho con. Hễ chẳng may tôi ngủ gật, cái quạt dừng lại thì ngay lập tức, một trong hai cô con gái thương yêu của tôi lên tiếng “e e” ngay.
Bạn có thể tưởng tượng ngày hôm sau làm sao tôi có thể “một người làm việc bằng hai” được?
Tôi không có con số thống kê chính thức, nhưng hình như cái thời mất điện nhiều là cái thời sinh đẻ vô kế hoạch nhất. Tự nhiên nửa đêm mất điện, hai vợ chồng không ngủ được, chả biết làm gì...
Cách đây ít lâu, tôi mất toi con cá rồng dài hơn 60cm, cũng là vì mất điện suốt một buổi sáng. Thiết bị sục khí không hoạt động, con cá bị thiếu ôxy, tối về tôi thấy nó ngáp ngáp, ý chừng thông báo cho tôi biết là tôi đang vĩnh biệt số tiền mấy triệu đồng.
Ông điện lực luôn đòi tăng giá điện, kêu rằng giá điện ở Việt Nam chưa bằng giá thế giới (mà sao ở ta, chỉ riêng giá cả thì người ta hay cố phấn đấu cho bằng nước ngoài thế nhỉ?) Về mặt này thì ông ấy đúng. Nhưng sản phẩm ông ấy bán ra có chất lượng bằng mặt bằng thế giới chưa? Ở các nước tiên tiến, hợp đồng mua bán điện có quy định rõ nhà cung cấp điện phải đền bù thiệt hại do mất điện gây ra cho người mua điện. Quan hệ ở đây là quan hệ mua bán chứ không phải quan hệ xin cho.
Ở Trung Quốc, giá điện được quy định là luỹ lùi, nghĩa là bạn dùng càng nhiều số điện, giá điện sẽ giảm theo, giống như bán hàng, ai mua nhiều thì được giảm giá. Ở ta, ngược lại, là luỹ tiến. Vì ta chỉ thích tiến, có bao giờ chịu lùi?
Giờ ít khi mất điện, thỉnh thoảng mất chút đỉnh cũng có cái hay. Thứ nhất là thỉnh thoảng bị mất điện, ta mới biết quý những lúc có điện, giống như thỉnh thoảng cãi nhau với người thân nhất, để rồi biết rằng chả dại gì mà cãi nhau nữa. Thứ hai là để nhớ lại một thời chúng ta đã sống, học tập, sản xuất và chiến đấu trong hoàn cảnh mất điện thường xuyên như thế nào.
Năm 1985, gia đình nhỏ của chúng tôi dọn về ở căn hộ đầu hồi trong khu tập thể Bách Khoa. Căn hộ 24 mét vuông được chúng tôi tiếp nhận như một toà lâu đài tráng lệ. Cuộc sống được nâng cấp lên một mức vô cùng sung sướng và đáng tự hào!
Anh chàng mất điện vẫn bám theo chúng tôi, làm như quý mến chúng tôi đến mức không thể rời xa.
Tôi và hai con gái ngồi vắt vẻo bên ô cửa sổ. Cửa sổ đầu hồi nhìn ra sân vận động nên gió rất mát. Chương trình văn nghệ quần chúng bắt đầu. Ba cha con hát đủ các thể loại bài hát, bài người lớn, bài thiếu nhi, thậm chí cả bài mẫu giáo.
Bất ngờ chương trình văn nghệ này kết thúc bằng một tiếng reo hò đồng loạt của cả khu tập thể mười mấy ngôi nhà cao tầng, tiếng reo hò thật lòng nhất mà tôi từng biết, nó phát ra trên tất cả các cung bậc tình cảm của con người:
- Có điện rooooooồi!
Không hạnh phúc nào bằng phút giây sáng bừng lên ánh sáng của sự có điện.
Tuy vậy, chưa hẳn việc có điện đã là hoàn toàn sung sướng. Những đường dây trục dẫn điện hạ thế bị quá tải nặng nề đến mức chúng đỏ lên như than hồng, gặp trời mưa thì dây điện sôi xèo xèo bốc khói, một cảnh tượng độc đáo ngày nay rất khó gặp.
Nguồn điện 110 vôn vào giờ cao điểm tụt xuống còn 30 vôn, có khi nó hứng chí tụt thấp hơn nữa. Suýt vôn tơ (bộ tăng giảm điện) là thứ mà nhà nào cũng phải sắm. Ai ít tiền chỉ mua nổi cái suýt vôn tơ không khoẻ lắm thì chỉ còn cách ngồi chửi cái thằng hàng xóm dùng suýt vôn tơ khoẻ quá, “hút” hết điện về nhà nó.
Dùng suýt vôn tơ rất lắm chuyện bi hài. Nhà nào cũng phải phân công một người nhanh tay nhanh mắt “trực suýt vôn tơ”. Hễ thấy điện tăng là phải ngay lập tức vặn roẹt roẹt cho kịp giảm điện, không thì ngày mai ông chồng sẽ phải đi mua cả đống bóng đèn điện về thay, bà vợ đi tìm thợ sửa Ti Vi, đài đóm. Mấy tháng lương vĩnh biệt ra đi chỉ vì một cú chậm tay chỉnh suýt vôn tơ!
Một cậu công nhân ở đơn vị tôi nhờ quấn suýt vôn tơ bán mà giàu to. Như các nhà chính trị kinh tế học thường nói, anh ta đã kịp tích luỹ tư bản để chờ đến thời kỳ đổi mới là đủ sức trở nên một đại gia có tên tuổi ở Hà Nội.
Cả nhà số 10 gần chục hộ gia đình song vẫn lấy điện từ một cái công tơ 5 am pe lắp đặt từ trước năm 1945, treo trong phòng kho của nhà ông Kháng. Công tơ thường chạy như ngựa tế, đĩa nhôm quay tít thò lò.
Thời gian đầu tiền điện được tính theo số bóng đèn mỗi gia đình thắp, sau các nhà lác đác có thêm quạt điện, bàn là, đèn nê ông, việc tính tiền điện trở nên rắc rối. Đạt xồm đòi tính tiền điện cho một đèn nê ông chỉ bằng nửa cho bóng đèn tròn. Tôi hay dùng mỏ hàn điện để sửa Ti Vi, ngại lời ra tiếng vào, tôi lắp riêng một cái công tơ. Từ đó lần lượt các nhà đều lắp công tơ riêng. Cầu chì mỗi nhà đều để ở phòng xép nhà ông Kháng để chống ăn cắp điện. Chả may nổ cầu chì nhà mình vào lúc ông ta đi vắng thì hãy chịu khó chấp nhận cảnh mất điện cục bộ cho đến khi bạn có khả năng tiếp cận cái cầu chì nhà mình nằm trên bảng điện to đùng và nhằng nhịt trong buồng xép của ông Kháng.
Hoàn què lắp đài ba bóng chỉ dùng mỏ hàn đốt trên ngọn lửa bếp dầu. Thỉnh thoảng tôi cho anh ta vài cái bóng bán dẫn, Hoàn què sướng rơn. Bóng bán dẫn tôi có cả bịch, hồi đi thực tập ở Viện Vật lý Kiev, nhiều hôm tôi lấy cả vốc. Việc này do chính ông Trưởng phòng hướng dẫn thực tập bày cho. Vào trưa ngày cuối tuần, ông Trưởng phòng khẽ nhắc anh nhân viên thí nghiệm cầm một cặp bóng công suất đã được đo kiểm cẩn thận và ghép thành đôi, chạy ra góc khuất ngoài hàng rào của viện, nơi luôn có dăm ba chàng trai trẻ lởn vởn đợi. Cặp bóng công suất được chuyển hoá thành tờ 10 rúp, năm phút sau tờ mười rúp lại được chuyển hoá thành một chai rượu Vodka, một ký giò, bơ, pho mai, bánh mì và dưa chuột muối. Lãnh đạo cùng nhân viên đóng chặt cửa phòng thí nghiệm có treo ngoài cửa tấm biển màu đỏ “Đang làm thí nghiệm tĩnh điện. Cấm vào!” rồi nâng ly chúc ngày nghỉ cuối tuần vui vẻ.
Do mất điện triền miên, tôi lắp một bộ giao động biến điện từ bình điện 12 vôn thành xung điện hàng trăm vôn thắp sáng một bóng đèn nê ông 60 phân. Khi có điện thì tôi nạp ac quy ở nhà, hễ mất điện dài dài thì tôi mang bình điện đến cơ quan nạp, lặng lẽ “cầm nhầm” một ít năng lượng điện của Nhà nước - cách ăn cắp điện ít bị lên án nhất trong rất nhiều kiểu ăn cắp điện thời bấy giờ.
Như đã kể về Phòng thí nghiệm Viện vật lý Kiev, bản chất chế độ bao cấp tạo ra nạn ăn cắp vặt, từ ăn cắp lặt vặt dẫn đến những vụ việc tham nhũng lớn hơn.
Người Hà Nội ăn cắp điện bằng nhiều cách. Cách thông thái nhất là chi cho anh công nhân điện lực quản lý khu vực bạn sinh sống một số tiền (bao nhiêu thì tôi không rõ vì tôi không ăn cắp điện), anh này sẽ đấu tắt công tơ điện nhà bạn sao đó để đáng ra công tơ phải chỉ một trăm số điện thì nó lại chỉ là hai mươi số thôi. Bạn dùng điện xả láng, gấp năm nhà bên cạnh mà hàng tháng bạn cũng chỉ phải trả tiền điện ngang bằng với ông bạn tội nghiệp kia.
Cách mang tính trộm cắp thô lỗ nhất là “câu điện”. Bạn làm một cái cần câu, ở đầu buộc một đoạn dây thép như cái lưỡi câu, dùng dây điện nối “lưỡi câu” vào mạng điện nhà bạn. Bạn móc cái lưỡi câu kia vào đường dây điện trần chạy qua gần cửa sổ nhà bạn, cứ thế mà dùng điện chùa. Hễ có hiện tượng đáng ngại thì hạ ngay cái cần câu xuống, có trời mà biết!
Còn có một cách rất khoa học kỹ thuật. Đó là khoan một lỗ cực nhỏ trên vỏ công tơ, luồn cái dây đồng qua lỗ nhỏ đó, hãm không cho đĩa nhôm của công tơ quay nữa. Đĩa nhôm không quay thì công tơ ngừng đếm công suất tiêu thụ. Gần đến ngày người của Điện lực đến ghi chỉ số công tơ thì ta rút cái dây đồng ra, công tơ chạy vo vo. Rất đơn giản!
|