Súng chống tăng RPD-2, ở VN ta gọi là B40

Cỡ nòng: 40 mm
Loại nòng: trơn mỏng
Cỡ đầu đạn: 80 mm
Chiều dài súng: 850 mm
Chiều dài đạn chưa lắp liều phóng: 500 mm
Chiều dài đạn đã lắp liều phóng: 670 mm
Chiều dài súng đã lắp đạn: 120 mm
Khối lượng đạn có liều phóng: 2,86 kg
Khối lượng đạn không liều phóng: 1,84 kg
Khối lượng súng đã lắp đạn: 4,67 kg
Tốc độ cao nhất: 84 m/s
Tầm bắn: 150 m
Sức xuyên: 180 mm thép cán tiêu chuẩn (RHA)
Tốc độ bắn: 6 phát phút
RPG-2 được thiết kế năm 1947, dến năm 1949 thì trang bị rộng rãi trong Quân đội Liên Xô, đến năm 1959 thì dừng trang bị, thay bởi RPG-7. RPG-2 được sử dụng và chế tạo rất rộng rãi, không thể tính hết được những nước đã sản xuất lậu hay có văn bằng, giống hệt hay hơi khác, cũng không thể tính được số lượng sản xuất vì súng rất dễ chế tạo. Súng được trang bị chính thức trong tất cả các nước dùng vũ khí Liên Xô trước đây. Ở một vài nước đến nay vẫn trang bị. Ở Việt Nam, súng này được trang bị với số lượng rất lớn trong thập niên 1960, thông thường, mỗi tiểu đội có một khẩu. Đến cuối Chiến tranh Việt Nam, Quân đội Nhân dân Việt Nam dùng chủ yếu súng B41. Triều Tiên, Trung Quốc là những nước đầu tiên dùng RPG-2 trong chiến tranh, sau đó đến Việt Nam, Cuba, Ai Cập, Syria. Sau này, súng này tham gia vào rất nhiều cuộc chiến tranh và xung đột ở châu Âu, châu Á, châu Phi, châu Mỹ. Tuy nhiên, chưa bao giờ tham chiến ở Liên Xô, quê hương của nó.
Trong thời Chiến tranh Việt Nam, súng B40 có mặt trong thời kỳ khó khăn nhất, thập niên 1960. Ngày đó, nó là khẩu súng chủ lực để diệt xe cộ, công sự. Những chiến thắng đầu tiên tại Ấp Bắc, Vạn Tường đã thể hiện tính năng của súng: khẩu súng của đội quân nghèo, mang nhẹ, ít lực lượng... đánh thắng địch đông và nhiều xe pháo.
Đạn RPD-2
Tên: PG-2
Kiểu: HEAT (High Explosive Anti-Tank)
Nặng: 1,84 kg (4 lbs)
Dài: 67 cm (25,6 inches)
Đường kính lớn nhất: 80 mm
Số cánh: 6
Tốc độ tối đa: 84/s
Xuyên giáp: 180 mm thép cán (RHA}
Hạn chế
Súng B40 thuộc những thế hệ đầu tiên của súng phản lực chống tăng. Súng có thuật phóng đơn giản. Tốc độ bay của đầu đạn thấp. Đạn dễ bị chặn bởi các vật cản như lưới, bao cát, tường vách mỏng. Sức xuyên của súng cũng không thích hợp với ngày nay. Việc sử dụng lưới có từ năm 1945. Đạn B40 khi bắn vào lưới như dưới đây bị mắc lại và không kích nổ. Lưới là loại thường sử dụng trong xây dựng, đan bằng dây thép 3 mm trở lên, mắt lưới khoảng 60 mm trở xuống. Loại lưới hay dùng trong xây dựng cho đến nay ở Việt Nam vẫn gọi là "lưới B40".
Cơ chế bắn của súng làm đạn không quay được trong nòng. Thuật phóng dùng thuốc nổ đen làm áp suất tăng đột ngột, không thể nhồi nhiều thuốc phóng. Vì những lý do đó, súng không thể bắn chính xác hơn, việc tăng tầm cho súng là vô ích và cũng rất khó. Sau này, người ta hay sử dụng cơ chế "phản lực khí động" hoặc "bán khí động", làm đạn quay trong nòng bằng cánh quạt hay rãnh xoắn. Những điều đó làm cho kiểu súng này sớm được thay thế. Tuy cùng đi vào trang bị với AK-47 nhưng B40 có tuổi phục vụ rất ngắn.
Cấu tạo ngòi nổ quán tính quá đơn giản, nhiều hạn chế. Ví dụ, một trong những trận đấnh đầu tiên là trận Vạn Tường, có những phát bắn quan trọng không nổ.
Một số người nhầm lẫn, thường ghi tốc độ đầu nòng của súng là 84 hoặc 85 m/s, thật ra đây là tốc độ tối đa của đạn, quá chậm.
Về chiến thuật, súng bắn tầm rất gần, nhưng lại không bắn được từ phòng trong phòng, khi súng bắn tạo khói của thuốc nổ đen làm lộ vị trí. Những điều đó làm việc sử dụng B40 trở nên nguy hiểm.
(Wikipedia)