Chương bảy
Đoàn thám hiểm đề nghị và được cấp một máy bay lên thẳng, xếp chiếc máy chiếu thời gian lên đấy và sau một thời gian bị chậm chễ bắt buộc, đã chuyển đến Thung lung Bốn câu Thập ác, tại đó công việc tìm hiểu đầu tiên đã dẫn đến nhiều khám phá thú vị.
Trong khi chúng tôi bay trên Thung lũng Bốn cây Thập ác, đồng chí thợ lái và đồng chí hoa tiêu đã nghiên cứu kỹ các địa điểm và đã nhận thấy là gần đó không có một khoảng đất trống nào để cho chiếc máy bay chở máy chiếu thời gian có thể hạ cánh được. Đối với chúng tôi đấy là một sự rắc rối bất ngờ. Ý nghĩ đầu tiên của chúng tôi là nhảy dù xuống. không may theo máy chiếu thời gian, tìm hiểu thung lũng và đi bộ đến khu vực dân cư gần nhất...
Nhưng các đồng chí phi công được chúng tôi nói cho biết ý định này, đã kiên quyết chống lại, và đề nghị chúng tôi hãy xin một máy bay lên thẳng. Chẳng hy vọng gì lắm, chúng tôi gửi một bức điện cho A-na-đia. Câu trả lời đến ngay sau đó: chúng tôi được sử dụng máy bay lên thẳng.
Việc đưa máy chiếu thời gian và các máy móc phụ lên máy bay lên thẳng mất khá nhiều ngày. Đó không phải là việc dễ dàng. Các máy điện tử đều rất nhạy, và trước khi có nhận xét là việc lắp máy rất hoàn hảo và chiếc máy hoạt động bình thường thì Bê-rê-xkin và tôi, chúng tôi đã lo lắng đến toát mồ hôi.
Chúng tôi sắp sửa ra đi thì mưa bắt đầu rơi. Nhiều đám mây lơn xám xịt là sát mặt đất, lấp kín mọi "con đường lên trời" và đồng chí chỉ huy sân bay kiên quyết từ chối không cho phép chúng tôi bay. Thật là một cực hình khi phải ở yên đấy, cách mục tiêu chỉ vài giờ bay, và vừa chờ đợi, vừa nguyền rủa thời tiết xấu, khi phải nhìn mưa rơi không ngừng từ các đám mây, khi nhìn thấy các đầm lầy ở đài nguyên no căng nước và các dòng suối lớn lên... Đó chính là thời kỳ của các đêm trắng và suốt 24 giờ tất cả đều xám xịt và ảm đạm. Cả những con muỗi đầy lông chắc cũng phải chết vì buồn, vì không thấy chúng đâu nữa.
Cuối cùng trời sáng ra. Chúng tôi bay từ sáng sớm và vài giờ sau chúng tôi đã thấy ốc đảo sẫm của rừng cây giữa hoang mạc Bắc cực...
Máy bay lên tháng hạ cánh cách xa căn nhà gỗ một chút. Khi động cơ đã tắt và các cánh quạt của rô-to ngừng quay, một sự im lặng chết chóc không có gì khuấy động bao trùm lên chúng tôi. Xúc động, chúng tôi từ máy bay bước xuống và đưa mắt nhìn quanh. Đằng sau chúng tôi, dãy núi A-na-đia đừng sừng sững, che chở cho thung lũng khỏi bị các luồng gió lạnh từ Bắc băng dương thổi về. Bầu trời hình như ngự trên những đỉnh núi tròn và lặng lẽ, và như tạo ra một cái mái hiên bên trên chúng tôi, che phủ thung lũng và khu rừng của nó.
Nhiều dải đá cuội xám chạy dưới chân chúng tôi như những dòng suối đóng băng và ngay gần đó, những cây liễu lùn, nhỏ đến nỗi người ta có thể lấy hai tay phủ kín chúng, tạo ra những vết sáng bạc trên mặt đất, những cây địa y Bắc cực có hình dáng kỳ lạ của san hô tăng thêm mầu trắng cho phong cảnh ấy, và giữa những tảng đá người ta trông thấy các thân cứng cuốn vào nhau như những bó dây thép...
Chúng tôi vượt qua một bãi tuyết khi đi đến căn nhà gỗ. Bãi giống như một cái hồ bất thần bị đóng băng do sương giá: gió thổi, từng đợt sóng chạy trên mặt hồ, rồi bỗng nhiên, chiếc đũa thần gõ xuống, và tất cả dừng lại. Những con gậm nhấm sợ hãi vì chiếc máy bay lên thẳng, ra khỏi hang và vừa nhìn chúng tôi vừa rít lên một cách lo lắng...
Nhánh không tên của sông Bi-ê-lai-a bắt nguồn đâu đó trên sườn núi, không sâu song rất rộng. Các tảng đá to tròn và sẫm nổi một phần khỏi mặt nước. Căn nhà gỗ nằm ở bờ bên trái của dòng sông, còn khu rừng bạch dương ở bờ bên phải.
Không xa căn nhà chúng tôi trông thấy bốn cây thập ác: ba chiếc lớn và một chiếc nhỏ. Hai chiếc nằm xa nhau và chúng tôi cảm thấy ngay là đã cũ lắm. Từ xa, chúng tôi đã nhận thấy cây gỗ đen - nguyên liệu làm ra chúng - đã bị nứt nẻ nhiều và chân bị mòn đi vì gió. Chỉ mòn thêm chút nữa là chúng sẽ đổ. Chúng tôi không thấy một dòng chữ nào ở đấy cả. Vả chăng có thể là chưa bao giờ có. Chúng đừng sừng sững ở đài nguyên, là đài kỉ niệm cân đối với tất cả những ai đã sống, chiến đấu và chết ở miền Bắc rộng lớn... Có lẽ chúng đã được dựng lên trên nấm mồ của những người đồng chí mạo hiểm vào thời các nhà "khám phá".
Về sau hai cây thập ác mới đã được dựng lên. Trên một cây, cây cao nhất, chúng tôi thấy một dòng chữ khắc hãy còn mới:
Jin-xốp An-đơ-rây Páp-lô-vích
Đoàn thám hiểm Bắc cực Nga
1914 - 1916.
Đối tượng các cuộc tìm kiếm của chúng tôi là câu chuyện về một đoàn thám hiểm đã mất tích từ bốn mươi năm về trước và dĩ nhiên, chúng tôi không hề có hy vọng là tìm thấy một người nào còn sống sót. Tuy nhiên, khi trên cây thập ác nhỏ chúng tôi khó khăn lắm mới đọc được tên nhà thiên văn học Ma-đu-rin thì một nỗi buồn sâu sắc kéo đến làm chúng tôi thắt lại và tay chúng tôi tự động đưa lên mũi...
Căn nhà gỗ cũ kỹ hình như bị thụt sâu vào đất. Trước khi vào, chúng tôi phải đào đất trước ngưỡng cửa để mở cửa. Rõ ràng là không có ai bước chân vào đó từ lâu lắm...
Một quang cảnh lạ lùng bày ra trước mắt khi chúng tôi vào nhà: trên mặt đất la liệt những tờ vở và những tờ ghi nhật ký hành trình rách nát. Một bộ xương người nằm giữa đám hỗn tạp ấy... Chúng tôi thở dài nhẹ nhõm khi bước ra khỏi nhà, cảm thấy làn gió lạnh vuốt trên mặt, nghe thấy tiếng nước chảy và tiếng lá rì rào: đối với chúng tôi thế giới hình như vô cùng thanh thiết, rộng lớn và trong suốt.
Bê-rê-xkin từ lâu vẫn im lặng, nói:
- Chính từ đây Dan-xơ-man đa bắt đầu đếm các bước chân. Và anh giơ tay chỉ về phía khu rừng.
Nhận xét này đưa tất cả chúng tôi trở về thực tế. Chúng tôi lại vào trong nhà, và tránh bộ xương còn sót dấu vết quần áo, chúng tôi thu nhặt cẩn thận mọi giấy tờ. Đồng chí lái máy bay thấy ở chân tường một con dao đi sẵn đã gỉ, anh cũng nhặt lấy. Chúng tôi trở về máy bay mang theo tất cả các thư đó, sắp xếp lại các giầy tờ tìm được và trao đổi cảm tưởng với nhau.
(Hết chương bảy)