Em đi vắng mấy ngày. Về thấy vui quá. Vui nhất là thấy bác ngbinhdi đã tiếp tục “thò nọc” ong Vò (Bò) Vẽ (chắc bác đã thoát khỏi tình trạng “trầm cảm” theo thuyết “chu kỳ đàn ông” của bác vidinhdhkt). Em còn nợ bác bữa “phạt” về tội
nếu náo dám
chưởi/khen bác quá tài!
Xuất hiện topic mới “rúng động” quá! Thấy “rúng mình”, em xin được “rúng” một tý, mặc dù chẳng bị ai “rúng ép”! Mong mọi người đừng “rúng rính” kẻo lại “rúng ríu”.
Tất cả những từ trong “nháy nháy” em đều “sao y bản chính” từ “Đại từ điển tiếng Việt” Mới 2008 (Tái bản, sửa chữa và bổ sung) GS.TS Nguyễn Như Ý chủ biên, NXB Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh phát hành, trang 1345.
Nếu dùng “rung chuyển”
(làm lay chuyển, rung động mạnh những cái vốn có nền tảng vững chắc: VD: “Bom nổ làm rung chuyển cả thành phố”-Từ điển đã dẫn) chắc đã không có topic này. “Rúng động”, quả có hơi lạ tai. Bản thân em lần đầu mới gặp, nhưng thực tế nó đang tồn tại, thậm chí rất nhiều, như cụ Gúc đã chứng minh. Mà cụ Gúc giỏi thật! Cái gì cũng biết! Em thử hỏi: “Cà rốt?” - Cụ cho ngay 433.000 kết quả trong 0,36 giây. Em lại hỏi: “Thằng này cà rốt?” Tưởng cụ bí, ai ngờ cũng trong 0,36 giây cụ cho 10.400 kết quả trúng “phóc” ý nghĩa luôn.
“Rúng động”, theo Từ điển đã dẫn, chỉ có duy nhất nghĩa: Nao núng, giao động (động từ).
“Rung động” có 2 nghĩa: 1. Chuyển động qua lại, chao động liên tiếp, không theo hướng xác định. 2. Làm trào dâng những cảm xúc, những tình cảm dạt dào.
Nếu theo Từ điển này, sự việc vừa qua xảy ra ở Moskva, dùng “rúng động” hay “rung động” đều không thể hiện được hết tinh thần cần thể hiện. Thậm chí “rung động” bị hiểu theo nghĩa thứ 2 thì còn tai hại nữa! Rất có thể, vì sợ bị hiểu nhầm, báo chí tránh dùng “rung động”, chuyển sang dùng “rúng động”.
Em thiên về “rúng động” dùng trong trường hợp này chưa đúng. Nếu là em, em sẽ dùng “rung chuyển)”. Tuy nhiên, trong tiếng nói có hiện tượng (gọi là quy luật cũng được) thú vị: Sai nhiều hoá đúng. Xin dẫn chứng:
“Cứu cánh” (danh từ) nghĩa gốc trong tiếng Việt là “Mục đích cuối cùng” VD: “Nghệ thuật là phương tiện, không phải là cứu cánh” (Từ điển đã dẫn), hay:
Trích:
Cứu cánh và phương tiện
Cứu cánh có biện minh cho phương tiện không? Có thể đôi khi đúng chăng khi sử dụng một phương tiện xấu để đạt đến một cứu cánh tốt đẹp? Chẳng phải là thân phận con người đòi hỏi đôi chút ám muội và lừa dối để được an toàn và thành công đó sao?”
|
Nhưng có một thực tế là hiện nay từ này được dùng phổ biến không với nghĩa như vậy, mà với nghĩa “cứu giúp hay giúp đỡ”, “giải pháp, biện pháp kịp thời, hiệu quả”. Việc dùng sai này được chấp nhận rộng rãi và chẳng mấy ai lọ mọ quan tâm đến cái nghĩa ban đầu của nó nữa.
Trích:
“Bóc vỏ xương” - Cứu cánh cho nhiều người bệnh
Viện Chấn thương chỉnh hình - Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 đang ứng dụng kỹ thuật bóc vỏ xương điều trị cho những trường hợp gẫy thân xương dài, xương không liền tạo thành các khớp giả gây tàn phế. Với những hiệu quả mang lại, phương pháp này đang là cứu cánh cho nhiều bệnh nhân tránh cho họ khỏi cuộc phẫu thuật phải lấy xương mào chậu để ghép.
|
Trích:
|
“Bone cement - cứu cánh của những trường hợp mất xương vùng mặt”
|
Trích:
|
“Từ khi loại thuốc phá thai có tên “Mifep…” xuất hiện, nó đã trở thành “cứu cánh” cho nhiều teen nữ “trót dại”. Và thay vì sống có trách nhiệm hơn với chính mình, họ lại ỉ i rằng “có thuốc phá rồi, sợ gì!” để ngày càng bừa bãi trong quan hệ”.
|
Và còn rất nhiều ví dụ tương tự như trên (hỏi cụ Gúc).
Phải chăng “Rúng động” cũng đang thay đổi theo quy luật này!?
Hôm nay Chủ nhật, lại vừa vắng mặt mấy ngày, nên hơi dài dòng. Mong các bác xá cho!