View Single Post
  #56  
Cũ 06-03-2010, 13:57
cây sồi cây sồi is offline
Salat Nga - салат Оливье
 
Tham gia: Mar 2010
Bài viết: 222
Cảm ơn: 103
Được cảm ơn 143 lần trong 92 bài đăng
Default thơ dịch

Evghenhi Evtushenko
Người dịch: Tùng Cương

CЛУЧАЙНЫЕ СВЯЗИ

Случайные связи,
они порицаются став
синонимом грязи
у грязи самой на устах.

И лженедотроги,
надменные губы поджав,
в пожарной тревоге
мужьям залезают в пиджак.

Взрывается ярость,
когда еам находит рука
записочку адрес -
любую улику греха.

Упреки в разврате,
они по-судейски грозны,
как будто в растрате
священной семейной казны.

Пусть лучше запомнят:
развратнее нет ничего
спать с мужем законным,
когда ты не любишь его.

Но разве развратен
тот случай, совсем не слепой,
что так безвратен
и всё-таки вечно с тобой?

Проездом, пролётом
тот случай – прекрасен и дик-
тебя над болотом
возносит – пускай хоть на миг.

В метро, в электричке,
в толпе, тебя взявшей в кольцо,
среди обезлички
вдруг выплыет чьё-то лицо.

И жизнь без нажима
лишь горло cжимая тебе
вдруг неудержимо
вас бросит друг к другу в толпе

Что будет – потёмки,
но выплакать легче тоску
ещё незнакомке
и всё же – почти двойнику.

Честней очерствованья,
когда вы с женой как враги, -
тот брак на мгновенье –
зато без измен и ругни.

И разве случайна
такая случайная связь,
которая тайно
мерцает всю жизнь тебе снясь?

При той дешевизне
занудства с которым слились –
случайности жизни,
быть может, и есть её смысл.

И пусть обличают
порочат бесстыдно стыдя –
без слова “случайность”
нет слова другого – “судьба”.
1973

NHỮNG QUAN HỆ TÌNH CỜ

Những quan hệ tình cờ
thường là bị chê trách,
chúng đồng nghĩa với rác rưởi
mà miệng lưỡi rác bẩn hay dùng.

Những người đàn bà ra vẻ chính chuyên
mím môi cao ngạo
như có cháy, lao bổ lao báo
lục tìm túi áo các ông chồng.

Cơn tức giận nổi lên đùng đùng,
khi tay người tìm thấy
một mẩu giấy thư, một địa chỉ
hay bất kì tang chứng tội lỗi vừa xong.

Trách móc tội lăng nhăng
lên án giọng quan toà, chì chiết
cứ như đánh mất hết tiệt
cả tiền bạc của gia đình thiêng liêng.

Họ nên nhớ kĩ hơn:
người vợ hư hỏng nhất
là lúc ngủ với chồng có hôn thú
mà chẳng yêu chồng.

Nhưng phải chăng là lăng nhăng
một lần hoàn toàn không mù quáng
cũng không thể có lần thứ hai gặp lại
và dù sao vẫn mãi mãi theo cô.

Một lần tiện đường đi máy bay
cái dịp ngẫu nhiên, tuyệt vời và hoang dã
giữa đầm lầy, cô được dâng bế lên cao quá,
dù chỉ trong thoáng giây.

Trên xe lửa, trên tầu điện ngầm
trong đám đông vây cứng cô ở giữa
những người chẳng biết tên, không quen mặt
bỗng nổi lên khuôn mặt một người.

Và cuộc đời không hề chịu sức ép nào
chỉ hơi thít nhẹ vào cổ,
bất chợt, không cưỡng lại được nữa
ném hai người vào nhau giữa đám đông.

Sẽ có điều gì- trời tối bưng,
nhưng thương khóc cho nỗi buồn, để san bớt
cho một người đàn bà chưa quen biết,
thì dễ dàng hơn – ta kể cho người giống hệt ta nghe.

Thế còn đứng đắn hơn thái độ đã cạn lòng
khi chồng với vợ là hai người thù ác
tuy cuộc hôn nhân chỉ kéo dài trong chốc lát,
bù lại, không phải phản bội và cãi vã nhau.

Và phải chăng đây cũng là tình cờ
quan hệ ngoài luồng như thế
vẫn kín đáo
lập loè sáng, suốt đời hiển hiện trong mơ.

Khi nhàm chán bám chặt vào cuộc sống lứa đôi
con người không thích nữa,
thì các quan hệ tình cờ đó
có khi lại là ý nghĩa của cuộc đời.

Và cứ để họ lên giọng làm bẽ bàng
bôi nhọ, vạch mặt một cách vô lối-
không có từ “tình cờ”
thì chẳng có từ khác là “duyên số”.
1973


НЕВЕРИЕ В СЕБЯ НЕОБХОДИМО
Да разве святость влезть при жизни в святцы?
В себя не верить – всё-таки святей.
Талантлив, кто не трусит ужасаться
мучительной бездарности своей.

Неверие в себя необходимо,
необходимы нам тиски тоски,
чтоб тёмной ночью к нам входило
и обдирало звездами виски,
чтобы вваливались в комнату трамваи,
колесами проехав по лицу,
чтобы верёвка страшная, живая,
в окно влетев плясала на лету.

Необходим любой паршивый призрак
в лохмотьях напрокатных инровых,
а если даже призраки капризны,-
ей-богу не капризнее живых.

Необходим среди болтливой скуки
смертельный страх произносить слова
и страх побриться –
будто бы сквозь скулы
уже растёт могильная трава.

Необходимо бредить неулежно,
провалиться прыгать в пустоту.
Наверно, лишь отчаявшись, возможно
с эпохой говорить начистоту.

Необходимо бросив закорюки,
взорвать себя и ползать при смешках,
вновь собирая собственные руки
из пальцев закатившихся под шкаф.

Необходима трусость быть жестоким
и соблюденье маленьких пощад,
когда при шаге к целям лжевысоким
раздавленные звезды запищат.

Необходимо с голодом изгоя
до косточек обгладывать глагол.
Лишь то кто по характеру – из голи
перед брезгливой вечностью не гол.

А если ты из грязи да и в князи,
раскняжь себя и сам сообрази,
насколько раньше меньше было грязи,
когда ты в настоящей был грязи.

Какая низость – самоуваженье.
Создатель поднимает до высот
лишь тех кого при крошечном движенье
ознобом неуверенность трясет.

Уж лучше вскрыть ножом консервным вены,
лечь забулдыгой в сквере на скамью,
чем докатиться до комфорта веры
в особую значительность свою.

Благословен художник сумасбродный,
свою скульптуру смаху раздробя,
голодный и холодный – но свободный
от веры унизительной в себя.
1982

CẦN CÓ ĐỨC THIẾU TỰ TIN

Liệu có cần, khi còn sống, đã chen chân vào hàng ngũ thánh thần?
Có đức thiếu tự tin, dù sao nữa, lại đáng cần hơn hẳn.
Người tài giỏi là kẻ không hèn biết sợ hãi
cái bất tài đến đau đớn của mình.

Con người cần có đức thiếu tự tin,
cần những gọng kìm để kẹp ghim chặt nỗi buồn lại,
để một tối đêm, bầu trời bước vào nơi ta ở
dùng các vì sao cào cấu nát thái dương ta
để từng đoàn xe điện lao thẳng vào nhà
lăn bánh thép chà xát ta khắp mặt,
để sợi dây khủng khiếp sống động
bay qua cửa sổ vào, múa nhảy trên đầu ta.

Cần bất kỳ ma quỷ xấu xí nào
trong trang phục đi thuê, diễn trò, rách rưới,
cho dù bóng ma có quái đản đến mấy
lạy trời, chúng cũng không tai quái hơn ma sống đâu mà.

Giữa đám người đang huyên náo phát buồn
cần nỗi sợ nói thành lời đến phát khiếp
và sự sợ hãi phải cạo râu sạch –
vì dường như từ hai gò má
đã chui ra đám cỏ mọc trên mồ.

Ta cũng cần mê sảng đến mức phải lang thang
phải vấp ngã, phải nhảy vào khoảng không trống hoác.
Mà có lẽ, chỉ tuyệt vọng rồi, mới dám
nói chuyện cùng thời đại một cách thẳng băng.

Ta còn cần vứt đi mọi mánh khoé, mưu mô
để làm nổ chính ta, và bò đi trong tiếng cười nhạo,
từ những ngón tay đang giấu sâu dưới gầm tủ
ta thu về lắp lại đủ bàn tay.

Ta cũng cần sự hèn hạ làm kẻ nhẫn tâm
và làm cả dăm việc khoan dung nho nhỏ,
khi tiến tới các mục tiêu giả danh cao cả
những ngôi sao bị nghiền nát đang rên rỉ khóc than.

Ta cũng cần cái đói của người bị bỏ rơi
để gặm nhắm ngôn từ đến hạt lõi.
Chỉ có kẻ thực chất xuất thân từ nghèo đói
đứng trước trường tồn kinh tởm, mới thấy mình không ở trần.

Và nếu ông đánh đu lên quan chức từ đất bùn
hãy từ bỏ quan chức đi và tự suy nghĩ:
những ngày trước, bùn dơ còn ít hơn, ít lắm,
chứ bây giờ, ông đang tắm giữa bùn đen.

Thật thấp hèn cái thái độ tự tôn.
Đức tạo hoá chỉ nâng ai lên cao độ
người chỉ cần một chuyển động nho nhỏ
cái không tự tin đã làm họ phát run.

Thà dùng dao mở đồ hộp cắt đứt ven ra
thà làm kẻ đáng bỏ đi, ghế vườn hoa, nằm vật vã,
còn hơn bò lê tới tiện nghi, nhà cao cửa rộng của
thói tự tin vào ý nghĩa đặc biệt của mình.

Đáng khen thay nhà điêu khắc ngông cuồng
dám đập nát bức tượng hao hao, mình vừa tạc,
anh ta đói và rét - nhưng tự do thật sự
không chạy theo thói tự tin đáng xỉ nhục vô cùng.
1982

ВЕЧНОЕ ВЕНЧАНИЕ
То мы рассоримся по-зверски,
то счастливы, то вновь отчаемся,
то мы все в той же самой церкви,
и все венчаемся венчаемся.

И Библия в литых застежках
шуршит под голоса протяжные,
и у друзей в руках затекших
парят короны наши тяжкие.

И всем святым на обозренье,
родившись братьями-обидчиками,
два довенчальные творенья
жужжат во всю автомобильчиками.

Тебе всё прочее неважно.
Ты так горда что ты обвенчана,
и неуверенно-отважна,
как первая на свете женщина.

Я так люблю вплывать глазами
в твоё лицо, в глаза венчальные,
и кто надел – не знаем сами -
нам наши кольца обручальные.

У счастья горький вкус испуга.
Стоим смирно подле вечности.
Как нам не разлюбить друг друга?
Лишь под защитой подвенечности.

Но эта предопределённость
не разведёт и не разрубит нас.
Сумеет вечной быть влюблённость
лишь бы осталась неразлюблённость.

Что нежность – это тоже счастье,
хотя бывает от отчаянья,
застенчивость усталой страсти,
и наше вечное венчание.
2004

LỄ CƯỚI TRỌN ĐỜI
Khi chúng ta cãi vã nhau như súc vật,
khi sung sướng, khi lại tuyệt vọng dài,
khi người người kéo đến một nhà thờ,
và tất cả đua nhau làm lễ cưới.

Sách kinh thánh đóng trong gáy đúc
lật trang nghe loạt xoạt trong tiếng hát ngân nga,
vương miện nặng chịch của ta nhẹ bay
trong cánh tay bạn bè đang tê cứng.

Hướng về các vị thần làm chứng
hai con người từ trước ngày lễ cưới với nhau
số trời ghép đôi họ, bắt vừa ghét, vừa yêu,
đang hết sức kêu vo vo bằng tiếng còi xe nhức óc.

Em chẳng cần biết đến những điều gì khác.
Em tự hào mình đã làm lễ cưới nhà thờ
em tỏ ra can đảm, vẻ chưa tự tin
như người phụ nữ đầu tiên trên trái đất.

Anh rất thích được bơi bằng đôi mắt
len vào khuôn mặt em, đôi mắt đã làm lễ kết hôn
và ai đeo, chính ta có biết đâu,
lên ngón tay hai ta nhẫn cưới.

Hạnh phúc có mùi vị đắng cay, sợ hãi.
Chúng ta đứng nghiêm bên sự vĩnh viễn trường tồn,
làm sao ta không chán yêu nhau suốt đời?
Chỉ dựa vào việc ta đã làm lễ cưới.

Nhưng chính cái là định mệnh ấy
không thể chia lìa và ngăn cách đôi ta.
Sự đắm say nhau liệu có thể dài lâu
điều cần nhất phải yêu nhau không chán.

Chuyện chăn gối là gì? Đây cũng là hạnh phúc
tuy rằng nhiều lúc do tuyệt vọng mà làm,
là sự e ngại do đam mê đã mệt rã rời
và là lễ cưới ở nhà thờ để ăn đời, ở kiếp.
2004
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn cây sồi cho bài viết trên:
Moskva84 (13-05-2010), rung_bach_duong (06-03-2010)