thơ dịch
Evghenhi Evtushenko
Người dịch: Tùng Cương
ЕСТЬ ПРЯМОТА
Есть прямота,
как будто кривота,
она внутри самой себя горбата.
Жизнь перед ней
безвинно виновата
за то, что так рисунком не проста.
Побойтесь жизнь спрямлять
не понимая что,
можно выпрямленьем согнуть,
что иногда
в истории прямая
меж точками двумя –
длинейший путь
1979
CÓ CÁI THẲNG…
Có cái thẳng,
nhìn tưởng cong, như lệch
vốn bên trong
nó đã chệch, vẹo xiên.
Chính cuộc đời
đành mang lỗi, oan khiên:
Không đơn giản –
tranh hiện lên không rõ rệt.
Anh đừng nắn
đời mình cho thẳng tuột,
không hiểu rằng,
uốn thế có thể bẻ gục một người,
rằng đôi lần
lịch sử cho thấy rồi:
Cái đoạn thẳng nối liền hai điểm kết
lại chính là đường dài nhất trên đời.
НАВЕРНО
Наверно, с течением дней,
я стану ещё одиней.
Наверно, с течением лет
Пойму, что меня уже нет.
Наверно, с течением веков
Забудут, что был я таков.
Но лишь бы с течением дней
не жить бы стыдней и стыдней.
Но лишь бы с течением лет
двуликим не стать, как валет.
И лишь бы с течением веков
не знать бы на могиле плевков.
1984
CÓ THỂ LÀ…
Có thể là, ngày lại ngày dần trôi
Cuộc đời tôi càng thấy thêm đơn chiếc.
Có thể là, năm tiếp năm đi hết,
Tôi hiểu ra mình đã chết trên đời.
Có thể là, nhiều thế kỷ vụt trôi,
Người đời sau, về tôi, quên không biết.
Nhưng tôi ước: ngày lại ngày đi hết,
Sống bình yên, không xấu hổ, ăn năn.
Nhưng tôi mong: năm tiếp năm qua nhanh,
Không phải làm quân bài gian – hai mặt.
Và tôi ước: nhiều thế kỷ qua vùn vụt,
Không một ai đến nhổ toẹt mộ phần tôi.
1984
УХОДЯТ МАТЕРИ
Уходят наши матери от нас,
уходят потихонечку,
на цыпочках,
а мы спокойно спим,
едой насытившись,
не замечая этот страшный час.
Уходят матери от нас не сразу,
нет, -
нам это только кажется ,
что сразу.
Они уходят медленно и странно,
шагами маленькими
по ступеням лет.
Вдруг спохватившись нервно в кой-то год,
им отмечаем шумно дни рожденья,
но это запоздалое раденье
ни их,
ни наши души не спасёт.
Все удаляются они,
все удаляются.
К ним тянемся,
очнувшись ото сна,
но руки вдруг о воздух ударяются –
в нём выросла стеклянная стена!
Мы опоздали.
Пробил страшный час.
Глядим мы со слезами потаёнными,
как тихими суровыми колоннами
уходят наши матери от нас…
1960
MẸ RA ĐI
Mẹ chúng ta đang rời bỏ chúng ta,
mẹ lặng lẽ đi xa,
nhón chân mà bước,
còn chúng ta ngủ say mê mết,
bụng căng cứng, no nê
không nhật thấy phút giây khủng khiếp ấy.
Mẹ chẳng đi ngay đâu đấy,
không mà, -
Ta chỉ cảm thấy là
mẹ đi xa nhanh quá.
Mẹ ra đi chầm chậm và lạ thường,
bước từng bước nhỏ,
theo từng nấc thang tuổi tác.
Rồi một năm
ta giật mình hoảng hốt nhớ ra
tổ chức linh đình ngày sinh của mẹ,
nhưng làm lễ lạt như thế là muộn quá rồi
không cứu được mẹ,
chẳng làm nhẹ trong người nỗi ân hận.
Mẹ chúng ta cứ ra đi,
và vẫn đi xa thôi.
Chúng ta vội níu kéo người
khi tỉnh ngủ,
nhưng tay ta chợt đấm vào không khí, chơi vơi –
mọc trước mặt ta là bức tường thuỷ tinh trong suốt!
Chúng ta đã muộn.
Giờ khủng khiếp nhất đã điểm rồi.
Chúng ta vội nhìn theo, nuốt thầm nước mắt,
như hàng cột nghiêm khắc, kiệm lời,
mẹ chúng ta đi xa rồi, xa mãi…
1960
ИРОНИЯ
Двадцатый век нас часто одурачивал.
Нас как налогом ложью облагали.
Идеи с быстротою одуванчиков
от дуновенья жизни облетали.
И стала нам надежной обороною,
как едкая насмешливость – мальчишкам,
не слишком затаённая ирония,
но впрочем обнаженная не слишком.
Она была стеной или плотиною,
защиту от потока лжи даруя,
и руки усмехались, аплодируя,
и ноги усмехались, маршируя.
Могли писать о нас, экранизировать
написанную чушь – мы позволяли,
но право надо всем иронизировать
мы за собой тихонько оставляли.
Мы возвышались тем, что мы презрительны.
Всё это так, но если углубиться,
ирония, из нашего спасителя
ты превратилась в нашего убийцу.
Мы любим лицемерно, настороженно.
Мы дружим половинчато, несмело,
и кажется нам наше настоящее
лишь прошлым притворившимся умело.
Мы мечемся по жизни. Мы в истории.
как Фаусты, заранее подсудны.
Ирония с усмешкой Мефистофеля,
как тень за нами следует повсюду.
Напрасно мы расстаться с нею пробуем.
Пути назад или вперёд закрыты.
Ирония, тебе мы душу продали,
не получив за это Маргариты.
Мы заживо тобою похоронены.
Бессильны мы от горького познанья,
и наша же усталая ирония
сама иронизирует над нами.
1961
SỰ MỈA MAI
Thế kỷ hai mươi thường đùa lỡm chúng ta.
Bắt ta dối trá như khai thuế.
Bao tư tưởng sinh sôi nhanh như hoa bồ công anh mùa hạ
bay khắp nơi, lấy hơi thở từ cuộc sống mà ra.
Sự mỉa mai là tường thành vững chắc của ta
như lời giễu cợt chua cay với đám coi trai lớn,
một sự mỉa mai không thâm sâu quá đáng,
nhưng, nói chung, không dễ bóc trần ra.
Sự mỉa mai là thành luỹ hay đập ngăn
giúp ta thoát khỏi dòng thác mang dối trá,
tay vẫn vỗ, mà tay cười khảy,
chân diễu hành, mà chân vẫn cười gian.
Người ta viết về ta, đưa lên phim
chuyện vô bổ - ta luôn cho phép,
nhưng quyền nói móc về mọi thứ khác
ta im lìm giữ lại cho phép ta làm.
Ta thấy mình ở thế cao vì tỏ ý coi khinh.
Mọi điều đúng như vậy, nhưng nếu nghĩ sâu hơn một chút.
Mỉa mai hỡi, người từ vai cứu tinh ta trước,
nay lại thành kẻ giết chết ta luôn.
Ta yêu thương, cũng giả dối, canh chừng,
Ta kết bạn, cũng nửa vời, không mạnh mẽ,
Và hiện tại của ta mà ta lại nghĩ
chỉ là quá khứ vờ vĩnh khéo thôi.
Chúng ta lăn lội ở trên đời. Chúng ta là lịch sử rồi.
Như Phauxtơ, đã mang tội ngay từ hồi khởi thuỷ.
Sự mỉa mai với nụ cười khảy của Mêphixtôphen đó
như cái bóng theo đuổi ta ở khắp mọi nơi.
Ta thử chia tay với sự mỉa mai mà vô ích rồi.
Đường tiến, đường lui đều khép lại cả.
Mỉa mai hỡi, ta bán linh hồn cho ngươi có giá
vậy mà trả giá rồi, không nhận lại được Margarita.
Chúng ta bị sự mỉa mai chôn sống chết tươi.
Đành bất lực vì đắng cay thừa nhận:
Chính sự trớ trêu của ta đã mỏi mệt
lại quay ra mai mỉa lại đúng ta thôi.
1961
Пришли иные времена.
Взошли иные имена.
Они толкаются бегут.
Они врагов себе пекут,
приносят неудобства
и вызывают злобства.
Ну а зато они – “вожди”,
и их девчонкиждут в дожди
и вглядываясь в сумрак,
украдкой брови слюнят.
А где же, где твои враги?
Хоть их опять искать беги.
Да вот они – радушно
кивают равнодушно.
А где твои девчонки , где?
Для их здоровья на дожде
опасно не иначе -
им надо внуков нянчить.
Украли всех твоих врагов.
Украли лёгкий стук шагов.
Украли чей-то шёпот.
Остался только опыт.
Но что же ты загоревал?
Скажи – ты сам не воровал,
не заводя учёта,
всё это у кого-то?
Любая юность – воровство.
И в этом – жизни волшебство:
ничто в ней не уходит,
а просто переходит.
Ты не завидуй . Будь мудрей.
Воров счастливых пожалей.
Ведь как ни озоруют,
их тоже обворуют.
Придут иные времена.
Взойдут иные имена.
1963
THỜI ĐẠI KHÁC MÀ TỚI
Thời đại khác mà tới,
Nổi lên tên tuổi khác xưng hùng.
Họ xô đẩy, chen chạy tứ tung.
Họ nướng luôn kẻ thù cho chết,
Họ mang lại bao nhiêu bất tiện,
Gây bao nhiêu oán giận, bất tuân.
Nhưng được điều, họ lên “lãnh tụ” của dân,
đám con gái đợi họ, mưa tầm mưa tã,
chăm chắm nhìn bóng đêm tối quá
kín đáo dùng nước miếng tô đậm lông mày.
Thế kẻ thù của ông ở đâu đây?
Thì lại chạy đi tìm ngay ra chúng.
Kẻ thù ở cạnh đây. Họ sung sướng
gật đầu nét mặt độn ngây.
Thế đám đàn bà nhà ông ở đâu đây?
Tuổi họ độ này không ra mưa được.
Sức họ chẳng đủ làm việc gì khác
Ngoài việc ở nhà trông cháu chắt thôi.
Họ dọn ngay kẻ thù của ông rồi.
Dọn sạch tiếng chân người đi nhẹ nhõm.
Dọn sạch tiếng ai thì thầm, lõm bõm.
Chỉ còn lại một nhúm kinh nghiệm cuộc đời.
Nhưng thế thì ông đau khổ nỗi gì đây?
Ông nói ngay: chính ông không gây trộm cướp
chẳng ghi sổ sách làm bằng,
đem về nhà mình tất cả thứ này của ai?
Ai khi nhỏ chả có lần ăn trộm rồi.
Trong cuộc sống, đấy là điều huyền diệu nhất.
Trong đời sống, không việc gì đã làm mà biến mất,
chúng chỉ thay hình, đổi chất mà thôi.
Xin ông đừng tị ghen. Mà nên rộng mở nhìn đời
Hãy thương những người trộm cắp gặp may rồi thoát tội.
Chính những kẻ dù ngỗ ngược, dù bặm trợn
sẽ có ngày bị cuộc đời cướp đòi lại trả người.
Sẽ chuyển sang thời đại khác thôi.
Sẽ nổi dậy xưng hùng là tên tuổi khác
1963
РАНЫ
Был я столько раз так больно ранен,
добираясь до дому ползком,
но не только злобой протаранен -
можно ранить даже лепестком.
Ранил я и сам – совсем невольно
нежностью небрежной на ходу,
а кому –то после было больно,
словно босиком ходить по льду.
Почему иду я по руинам
самых моих близких дорогих,
я так больно и легко ранимый
и так просто ранящий других…
1972
NHỮNG VẾT THƯƠNG
Đã bao lần tôi bị đánh mang chấn thương,
về được đến nhà, thường bò lê bò lết,
tôi bị đánh không chỉ vì sự độc ác thôi đâu, -
một cánh hoa cũng có thể gây thương tích.
Đánh người khác do chính tôi không cố ý,
chỉ vì sự nhẹ nhàng, lơ đãng mà thôi,
và sau đó có người bị thương đau quá
như đi chân trần trên băng đá lạnh trơn.
Vì sao tôi đang đi giữa đống hoang tàn
của chính những người thân, yêu quý nhất,
vì tôi là người dễ bị đánh thành tật thương
và chính tôi cũng vô tình gây đau cho người khác.
1972
|