View Single Post
  #33  
Cũ 01-03-2010, 10:34
hungmgmi's Avatar
hungmgmi hungmgmi is offline
Kvas Nga - Квас
 
Tham gia: Nov 2007
Đến từ: Hà Nội
Bài viết: 6,374
Cảm ơn: 7,948
Được cảm ơn 12,324 lần trong 3,882 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới hungmgmi
Default

(Tiếp theo)
Sau cái đêm sương ấy, tôi chăm sóc hai anh lính của tôi hơn. Và cũng nhắc nhở hai cậu kín đáo hơn, cố gắng chỉ loanh quanh ở trại rau, tránh ra mặt. Tôi nhắn lên Mat nhờ người khuân về cho họ gần chục thùng mì. Rẻ bèo ấy mà, so với những thức tôi vẫn ăn hàng ngày. Làm công ăn lương, quanh năm ở lì dưới vùng ngoại ô này, chỉ việc trông coi rau cỏ, chỉ đạo thu hoạch thôi nhưng cuộc sống của tôi cũng đã đầy đủ lắm. Sáng có bánh mì bơ mua ở cửa hàng thực phẩm đầu thôn, sữa dê mua của bà lão Nata chăn dê, chẳng qua xử lý nhào nặn gì, cứ thế là uống, nghe bảo bổ lắm. Trưa chiều ăn tối trong căng-tin của nông trang. Hứng chí lên, vẫn có thể cho phép mình mua chục cân thịt cừu tươi, ướp hạt mùi thơm nức rồi rủ rê cánh đàn ông đàn bà khu nhà khách cùng đi nướng shashlyk. Chỉ có điều, niềm vui thú hứng khởi sao mà nhanh hết! Nuốt miếng thịt béo thơm lừng qua cổ, là đã thấy lại ngay cái buồn thắt ruột thắt gan mà chỉ có vodka mới đẩy nó xuống tận đáy cùng của con người mình được.

Vlad và Andrei thì trường kỳ mì tôm.

Còn Galia, người cô thường thơm phức mùi bột mì rán. Món tủ của cô là món bánh nhân hành tây. Ngon, phải nói là rất ngon. Nhưng mãi cho đến sau này tôi vẫn còn ngửi thấy cái mùi thơm ngậy ấy mỗi buổi tối đi xuống bếp, đậm và rõ nét đến nỗi tôi phải rùng mình buồn nôn. “Cô không có món gì hơn à? Thịt đâu?” “Có chứ! Nhưng lần nào anh xuống cũng đúng lúc tôi rán bánh hành. Món này là món gia truyền của nhà tôi, ngày nào không ăn tôi không chịu được!” – Galia nói, mắt ánh nét xanh lóa lên, như mắt một con mèo trong đêm. Tôi thấy hơi sợ cô. Có lẽ một phần vì cách sống khắc khổ của một cô gái mới hơn hai mươi tuổi, có hơi thở thơm mùi bánh nhân hành và bộ ngực mềm mại đầy sức sống. Nhưng đôi bàn tay thì chai sạn gân guốc. Chân cũng thế, gân xanh nổi chằng chịt. Cô làm việc rất hăng. Nhận làm cho nông trang, nhận làm cho tôi. Việc ngoài giờ ai nhờ lau dọn toa-let hay đan len đan áo (có thù lao) là cô nhận tuốt. “Kiếm tiền lấy chồng à?” – Tôi chọc. Galia lại cười to, ha hả, cái kiểu cười thật không nữ tính chút nào!

Một đêm, trăng sáng quá, tôi không ngủ được. Thường không mấy khi tôi để ý tìm trăng ở bầu trời này. Tôi nhìn xuống, nhìn ngang nhiều hơn là ngửa cổ lên trời. Thế nhưng đêm ấy thì tôi thấy được trăng, vì qua cửa sổ tôi quên kéo rèm, ánh trăng chiếu thẳng vào mặt tôi. Tôi cảm thấy mặt mình nằng nặng, ươn ướt. Thứ ánh sáng kỳ diệu mà tôi đã quên từ lâu đang tràn trề trên mặt, chảy vào miệng tôi những dòng ngọt ngào. Tôi bật dậy, mặc quần áo ra đường. Từ hồi nhận “cắm rễ” ở vùng này một mình, tôi ít ra đường ban đêm. Hoặc là ngủ lại ở nhà kính, hoặc là về phòng ở nhà khách nông trang, đóng chặt cửa ngủ hoặc không ngủ, cho đến sáng. Dăm ba bận có mấy lão say về muộn, đi ngang phòng tôi đập cửa rầm rầm. Mặc kệ, tôi cứ trùm chăn kín đầu. Giữ mình sống an toàn qua một ngày nữa, để mà kiếm tiền. Mục đích của tôi khi đến xứ này chỉ có thế! Mà kiếm tiền để làm gì, thì khi nào có tiền rồi tôi mới nghĩ đến sau!

Đang thẫn thờ ngồi ở chiếc ghế gỗ đầu thôn đặt dưới tán cây sồi cổ thụ, ngắm ánh trăng chảy qua kẽ lá sồi, tôi bỗng nhận ra một dáng dấp tất bật quen thuộc, cái hông to và xệ, đang thoăt thoắt đi về phía nhà kính trồng cải. Nhà ấy xập xệ nhất trong số các nhà kính của tôi. Nhiều nơi kính nứt vỡ toang hoác. Nhưng cải chịu được lạnh, kể cả sương muối đêm lạnh buốt của mùa Hè ẩm ướt nước Nga, nên tôi không gia cố lại làm gì.

Tôi thấy Galia tay cầm túi paket màu đen, lách vào đám cải, đến nơi cây cải Tashkent vươn ngồng cao nghểu. Cô hì hụi bới đất thành hố nhỏ sâu, rồi trút mớ bùng nhùng trong túi vào đó.

- Ngồi yên! – Tôi quát khẽ. Galia giật thót, đứng phắt dậy, tay buông túi ôm lấy ngực, mặt nhăn nhó đau đớn.

- Cô làm cái quỷ quái gì ở đây thế này?

Im lặng.

Tôi cũng chẳng hỏi thêm, tiến đến soi đèn pin vào hố đất mới đào. Một túm lông xám nâu rũ rợi lọt trong đó. Thoáng chút máu tươi. Bồ câu? Galia gật đầu, òa khóc. Lần đầu tiên tôi thấy Galia khóc, bình thường chỉ thấy cô cười, cười rất vô duyên. Galia khóc cũng chẳng có duyên hơn, nhưng vì thế mà tôi thấy cô trở nên nhỏ bé đáng thương hơn bất kỳ một người đàn bà nào đang khóc mà tôi từng chứng kiến. Cô nức nức nở nở, liên tục đưa tay vò mớ tóc hung hung xoăn tít của mình.

- Thôi đừng giật tóc nữa, - tôi lên tiếng an ủi. – Tôi cũng từng ăn bồ câu. Người Việt vẫn ăn bồ câu.

- Tôi biết, - Galia hức lên. – Nhưng đấy là tập quán của các anh. Chúng tôi thì không… không có… Nhưng tôi…

- Cô đói, phải không?

Im lặng gật đầu. Tôi không hiểu:

- Thế tiền công làm việc cô để đâu? Cô có khi còn giàu hơn tôi ấy chứ!

Trên gương mặt Galia thoáng một nét tươi:

- Gửi về U hết rồi. Tôi còn mẹ già và một con bé con 4 tuổi.

- Trời, cô trẻ thế mà đã có con 4 tuổi?

- Chứ sao! Tôi đã 23 rồi.

- Tự hào gớm nhỉ! Kém tôi gần chục tuổi. Mà tôi thì vợ chưa, con chưa…

- Con gái Nga gái U thường lấy chồng sớm lắm, rồi cũng sớm một mình nuôi con…

Chúng tôi không biết nói gì tiếp, im lặng. Ánh trăng dừng trên nóc nhà kính, chỉ có bóng loang loáng trên ấy, như cuống quýt đang tìm đường vào. Vẩn vơ nhìn cây cải Tashkent, rồi cái hố, tôi chợt hiểu ra:

- Hiểu rồi. Đây chính là cái quái quỷ cô bón cho cây, làm nó đột biến dị thường thế này đây!

- Chưa chắc. Trước tôi vẫn chôn lông cánh dưới giàn mướp, mà có thấy gì đâu!

Tôi cười to. Galia cúi mặt, lấy bay lấp hố chôn lông và xương chim, lầm bầm nói:

- Anh cười gì? Từ hôm thấy cái cây nó mọc to, tôi cũng thích nó mọc to nữa to nữa xem thế nào. Anh có nghĩ nó sẽ vượt cả cái trần nhà kính, vươn lên trời kia không?

- Có thể lắm! Tại sao lại không nhỉ? Tôi chợt nhớ câu chuyện về cây đậu, mọc xuyên lên trời, thành những bậc thang để người con gái trèo lên mà tìm gặp người yêu đi lạc. Tôi bảo Galia:

- Nếu cây cải Tashkent này mọc chọc trời, cô có dám trèo lên đến cùng không?

Galia trầm ngâm, hơi mơ màng, đáp:

- Dám…

- Nếu nó mọc lên đến thế thật, chắc nhiều người phải cảm ơn cô đấy. Mấy hôm nữa, cô nhớ lấy hạt của cây này làm giống nhé. Biết đâu cứ kiên trì, sẽ có lúc trồng được cả một nhà cải chọc trời thì sao!

- Thế thì anh lỗ vốn. Vì có ai mua cải này mà ăn đâu! Anh cứ ước vớ ước vẩn thế, có ngày bị đuổi việc!

- Tôi sợ chắc! Nói cho cô hay, tôi sống không chỉ để kiếm tiền…

Nói xong, tôi quả cũng có đôi chút ngượng ngùng. Nhưng rồi, cái câu ấy cứ lặp đi lặp lại trong đầu tôi, ong ong vang lên suốt cả khúc đêm còn lại. Hình như cũng chính nó đã khiến tôi thiếp được đi trong một giấc ngủ không mộng mị vào cuối đêm gần sáng, không thấy cảnh nhốn nháo chia tay ở sân bay Nội Bài hay cảnh những cánh đồng làng tôi phủ đầy khói của các lò gạch mà tôi vẫn thường mơ thấy. Bữa ấy, tôi có giấc ngủ yên lành nhất kể từ khi sang Nga.

**

Nhưng cây cải Tashkent to đột biến như thế không chỉ nhờ đám lông xương bồ câu của Galia. Còn một nguyên nhân khác nữa mà mãi sau này tôi mới biết.

Cuối vụ rau mùa Hè, các nhà rau thu hoạch gần xong rồi, tôi đã cho dỡ đi để chuẩn bị ủ phân bò cho đất. Việc trông coi rau cỏ không còn là bức thiết nữa. Vlad và Andrei bắt đầu đi lại vật vờ trong làng, hỏi xin thêm việc làm. Người thì gọi họ cào cỏ chất thành đống rồi đốt. Những đụn khói đầu Thu bắt đầu bốc lên ở khắp nơi, làm thành lớp sương mù quấn quện với mặt đất vào ban ngày chứ không cần đợi đến đêm. Người thì nhờ họ bổ củi. Những đống củi chất đầy góc vườn nằm đợi mùa Đông. Có những ngày không ai kêu làm gì. Hai người ngồi đọc sách trong chòi gỗ. Sách cũ xin được của người trong làng. Bạ cái gì cũng đọc, cả sách nuôi dạy trẻ “Con của bạn từ 0 tháng đến 3 tuổi”! Thấy họ thiếu việc, tôi gạ hai anh chàng dạy cho tôi ít võ. Nghe bảo lính Nga học võ kinh lắm. Vlad cười cười không nói gì. Andrei cởi phăng áo, khoe cơ bắp vạm vỡ rắn đanh, tay này đấm thùm thụp vào bắp tay kia, bảo: “Võ gì? Có mà võ thịt! Cứ vào lính, bị ma cũ tẩn cho vài trận là có võ ngay ý mà!” “Thật à? Sao nghe bảo người ta phải thuê thày thợ dạy cho bọn mày kỹ lắm? Có ông thày võ người Việt bọn tao cao cường lắm nhé, cũng từng dạy lính Nga!” – Tôi huênh hoang. “Tôi không biết. Lính đặc nhiệm thì học hành kỹ lưỡng là đúng rồi. Bọn tôi là lính mồ côi ấy mà, nhiều lắm, thời bình thì hiến sức cho người ta, chỉ huy bảo làm gì cũng phải làm…” “Hiểu rồi, nước sông công lính” – Cái câu này tôi không nói được tiếng Nga, chơi luôn tiếng Việt. Bọn Vlad, Andrei cũng chẳng hỏi lại nghĩa là gì. Nhưng hình như họ hiểu. “Có chiến sự thì bắn súng, đạn còn bay quanh bia cũng phải đi, ra trận luyện bia người” – Vlad tiếp, vừa nói vừa lấy cái lò xo tàu ngầm thả vào ca nhôm đun nước. Tôi khịt khịt mũi nhìn quanh. Quái, cái chòi này lúc nào cũng có mùi… Mùi gì quen thế! “Mùi mì ăn liền của các anh chứ mùi gì”. Ừ nhỉ, thế mà không nghĩ ra. Có những mùi hương quen thuộc đến ăn vào máu thịt rồi, mà đôi khi mình cũng lãng quên, không gọi được tên. Tôi ái ngại nhìn hai thanh niên đang tuổi lớn. Họ thận trọng lấy nĩa vớt những sợi mì dài mỏng manh, bớt lại nước, chăm chú ăn, dường như đây là việc họ quan tâm nhất lúc này. “Sao thế? Nước không ngon à?” “Ngon, nhưng cay quá!”… Gói gia vị chỉ có chút tiêu, rất ít ớt mà họ cũng không chịu được. Người Nga vốn ưa ngọt ghét chua cay! Nhưng bảo bỏ gia vị đi thì cũng không muốn, vì “như thế mất hết mùi thơm”!

Một chiều chớm Thu, mưa xậm xị, tôi lại đang ngồi với Vlad và Andrei bên mấy ca mì tôm thì có tiếng gõ cửa, và ba người đàn ông mặc quân phục xộc vào. Họ đưa hai anh chàng bom-zhờ của tôi đi. Từ nay họ lại là lính, hết là bom-zhờ, có doanh trại, có giường, có nhà để ở, đến giờ được ăn, không còn phải ăn mì gói nữa. Tôi hốt hoảng nhìn mấy cái ca còn õng nước mì váng mỡ, cuống cuồng lấy những gói mì còn lại trong ngăn kéo cho vào paket, dúi vào tay họ. Hai người ngoan ngoãn cầm túi mì, rồi đi theo mấy sĩ quan kia. Ra đến ngoài cửa rồi, Vlad chợt quay lại, nói với tôi:

- Cảm ơn anh, anh Tân ạ. Anh có biết cái cây cải Tashkent to như thế là được tưới bằng cái gì không? Bằng nước mì tôm đấy. Thật mà. Có một lần bọn tôi ngồi đó ăn mì, rồi chẳng biết đổ nước vào đâu, mới đổ trộm vào gốc mì. Sau thấy nó mọc to quá, tôi chắc chắn là do nước mì tôm… Tôi và thằng Andrei ngày nào cũng làm thế. Chỉ với cây cải ấy thôi. Anh cứ thử xem, vụ sau… Nhé?

Không hề có sự đùa cợt ở đây. Mắt Vlad nhìn tôi, trong veo. Thật không tin được con người có vẻ bề ngoài khô khẳng khắc nghiệt ấy lại có cái nhìn trong veo đến thế.

***

Câu chuyện cây cải Tashkent của tôi chỉ dừng ở đó. Tôi không bao giờ có được cây cải khổng lồ thứ hai. Sau khi Vlad và Andrei bị bắt, Galia cũng giả phòng ở nhà khách để trở về Ukraine chăm mẹ ốm nặng thì tôi không còn tâm trạng nào ở lại vùng đất này nữa. Khi đến đây tôi chỉ có một mục đích: làm việc làm việc và làm việc, để kiếm tiền rồi nhanh chóng trở về nước. Xin việc, rồi lấy vợ. Lấy Thoa, nếu cô còn đợi tôi… Nhưng mấy ngày sau khi những người bạn tình cờ thân thiết kia rời xa tôi, tôi bỗng cảm thấy một nỗi cô đơn rã rời xâm chiếm toàn thân. Tôi xin thôi việc, lên Mat. Chẳng biết điều gì đang đợi tôi ở đó, nhưng tôi thấy mình kiên quyết phải đi. Trước khi đi, tôi ngồi tần ngần bên cây cải Tashkent, cây cải duy nhất còn lại trong nhà kính. Tôi không lấy hạt của nó làm giống, vì tôi gần như chắc chắn rằng, ở nơi khác, với sự chăm bẵm bình thường, tôi sẽ không có được cây cải khổng lồ như thế này. Nó sẽ ở lại đây, to lớn, cô độc, kiêu hãnh mang trong mình bí mật của những con người. Cho đến lúc bị dế ăn và vàng lụi.

Ở Matxcơva, tôi may mắn xin được chân lái xe thuê cho một bà giao hàng khô ở chợ Vòm. Tôi được làm giấy tờ tử tế để đi lại hợp pháp. Hiếm hoi có những chiều rảnh rỗi, tôi lang bang dọc con đường gần nhà, mặc dù đã bị cảnh báo là không được đi lại nhiều một mình, nguy hiểm. Không hiểu sao, nghe nhiều chuyện trấn cướp ghê gớm rồi, nhưng tôi không hề thấy sợ. Có vẻ như cái cây cải Tashkent dạo nào đã tặng tôi hình ảnh vững chãi của nó, để tôi có được một sự bình tâm kỳ lạ trong những ngày tiếp theo sống ở nước người.

Chiều mùa Đông có nắng. Tuyết rơi lấp lánh khắp nơi. Tôi đánh xe về sau buổi giao hàng, đi chậm chậm dọc con đường quen thuộc, thì thốt thấy một cánh tay lính mặc áo rằn ri thò ra từ fortochka bé xíu ngay tầng 1 của dãy nhà xam xám với những ô cửa sổ đầy song sắt thô rỉ. Trại lính! Thế mà mọi ngày tôi không để ý. “Ây, này…” Chủ nhân của cánh tay lính gọi tôi. Tôi ra khỏi xe, đến gần ô cửa. Cậu lính còn rất trẻ, gần như còn là một chú bé, đầu húi cua ngắn, mặt non choẹt, gầy guộc, dí mũi vào cửa sổ, đang mỉm cười với tôi qua tấm kính mờ hơi nước. Cậu ta nháy mắt ranh mãnh:

- Cho xin mấy đồng đi!

Không đợi tôi phản ứng, cu cậu ròng xuống một ống bơ sữa bò được khoét hai lỗ cân đối, nối dây gai nâu. Tôi máy móc lục túi lấy tiền lẻ đặt vào. “Cảm ơn” – cậu bé reo lên. Khi cậu kéo chiếc ống bơ vào rồi, tôi mới sực tỉnh:

- Gượm, đợi đã! Thả tiếp xuống đi!

Tôi chạy vào xe lấy ra một chục gói mì ăn liền, hì hục buộc từng gói vào chiếc ống bơ. Ở phía trong, cậu lính cũng khéo léo lấy lên được bằng hết.

Tôi lên xe phóng đi, không kịp nghe cậu bé cảm ơn lần nữa. Mũi cay xè như vừa ăn mù tạc. À mà người ta bảo, cải Tashkent làm mù tạc là xịn nhất đấy!

Thụy Anh
__________________
hungmgmi@nuocnga.net
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 8 thành viên gửi lời cảm ơn hungmgmi cho bài viết trên:
Flamingo (15-03-2010), Geobic (01-03-2010), Hoa May (02-03-2010), Mien trung (07-05-2011), Siren (15-03-2010), sonkinh (15-03-2010), USY (02-03-2010), virus (01-03-2010)