Ðề tài: Khoa học căm thù
View Single Post
  #3  
Cũ 10-02-2010, 18:15
YuriYushakov's Avatar
YuriYushakov YuriYushakov is offline
Bánh bliny nóng - Горячие блины
 
Tham gia: Nov 2008
Bài viết: 39
Cảm ơn: 28
Được cảm ơn 42 lần trong 15 bài đăng
Default

Trại tập trung này gần như là một trung tâm phân phối và bọn chúng tôi bị đưa sang trại khác cách đó khoảng một trăm cây số. Ở đây cũng giống hệt như ở trại trung tâm phân phối: vẫn những cột cao mắc giây thép gai, trên đầu chẳng có chút mái che, chẳng có gì sất. Thức ăn vẫn như cũ, nhưng thỉnh thoảng thay cho kê sống, chúng cho một ca lúa mí thối đã nấu chín, hoặc chúng lôi vào trong trại những thây ngựa chết, mặc cho tù binh chia nhau. Để khỏi bị chết đói, chúng tôi đành phải ăn và rồi cả trăm người chết... Thêm vào đó, đến tháng Mười một trời bắt đầu lạnh, mưa triền miên không ngớt, buổi sáng lại có sương muối giá rét. Chúng tôi đứng vì rét. Tôi lấy được một bộ quân phục và chiếc áo capốt của một đồng chí Hồng quân đã chết. Nhưng vẫn chẳng chống được rét, còn cái đói thì đã quen rồi...
Bọn lính canh gác chúng tôi đều phát phì ra nhờ cướp bóc. Tính nết chúng giống nhau như rập khuôn. Bọn lính canh đều được lựa chọn từ những tên đê tiện nhất. Chúng giải trí theo kiểu thế này, buổi sáng, một tên cai ngục đến bên hàng rào dây thép gai và nói qua phiên dịch:
- “Sắp phát thức ăn. Bắt đầu từ bên trái”.
Tên cai bỏ đi. Tất cả những ai còn đứng được đèu tập trung ở phía trái vòng đai. Chúng tôi đợi một, hai, ba giờ đồng hồ. Hàng trăm bộ xương người sống run rảy đứng trước gió buốt... Đứng và chờ đợi.
Đột nhiên bọn lính gác xuất hiện rất nhanh ở phía bên kia hàng rào. Chúng ném qua giây thép gai vài miếng thịt ngựa. Tất cả mọi người bị các đói thôi thúc đổ xô cả về phía đó và một cuộc xâu xé đã xảy ra quanh những miếng thịt ngựa nhầy nhụa bùn đất.
Bọn lính canh cười phá lên và sau đó là một tràng liên thanh dài vang lên giòn giã. Tiếng kêu, tiếng rên rỉ. Tù binh chạy dạt sang phía bên trái hàng rào, còn lại trên mặt đất là những người bị chết và bị thương... Tên đại uý cao lớn - trưởng trại – cùng với tên phiên dịch đi đến gần hàng rào giây thép gai. Tên đại uý cố nhịn cười nói:
- “Trong khi phân phát thức ăn, đã xảy ra chuyện lộn xộn bỉ ổi! Nếu điều này còn tái diễn, ta sẽ hạ lệnh bắn không thương tiếc lũ lợn Nga chúng mày! Dọn xác bọn đã chết và bị thương đi!”. Bọn lính Hitler chen chúc sau lưng tên trưởng trại được một trân cười thoả thuê. Chúng rất thích kiểu phai trò “hóm hỉnh” của thủ trưởng.
Chúng tôi lặng lẽ khiêng những anh em bị giết ra khỏi trại, chôn ở một nơi gấn đấy, dưới khe... Trong trại này, chúng đánh người bằng nắm đấm, bằng gậy gộc, bằng báng súng. Đánh người chỉ đơn giản vì buồn chán và để giải trí. Những vết thương của tôi đã kín mương, nhưng có lẽ vì luôn luôn bị ướt và bị đòn nên lại toác ra, đau không chịu nổi. Nhưng tôi vẫn sống và vẫn không mất hy vọng sẽ được thoát... Chúng tôi nằm ngủ ngay trên vũng bùn, chẳng có lấy một lớp rơm lót. Mọi người nằm túm tụm lại với nhau, chất thành đống. Suốt đêm, có những tiếng ồn ào nho nhỏ, những người nằm dưới, trong vũng bùn bị lạnh cóng, còn những người nằm ở phía trên cũng bị lạnh cóng. Đó không phải là giấc ngủ nữa mà là một cực hình.
Ngày tháng cứ trôi đi, như trong cơn ác mông. Tôi cứ mỗi ngày một yếu đi. Bây giờ thì ngay đến một đứa trẻ con cũng có thể quật ngã tôi được. Đôi khi tôi kinh hoàng nhìn hai cánh tay chỉ có da bọc xương của mình mà nghĩ rằng: “Làm thế nào mà thoát khỏi được nơi này đây?”. Và thế là tôi lại tự nguyền rủa mình đã không cố tìm cách chạy trốn ngay trong những ngày đầu. Nếu như chúng giết chết tôi ngay khi đó thì bây giờ tôi đã chẳng bị đày đoạ đến khủng khiếp thế này.
Mùa đông đã đến. Chúng tôi dọn tuyết và nằm ngủ ngay trên mặt đất giá băng. Số anh em chúgn tôi trong trại ngày một ít đi... Cuối cùgn chúng tuyên bố là vài ngày nữa sẽ phái chúng tôi đi làm việc. Mọi người như sống lại. Ở mỗi người đều nảy ra hy vọng, dù là rất mong manh, nhưng vẫn hy vọng rằng có thể có cơ hội chạy trốn.
Đêm đó trời lặng gió nhưng giá buốt. Trước lúc bình minh, tôi nghe thấy tiếng đại bác gầm. Xung quanh tôi nháo nhác hẳn lên. Đến khi nghe tiếng đại bác nổ tiếp thì bỗng nhiên có một người nào đó nói to:
- “Các đồng chí, quân ta tấn công rồi!”.
Và thế là diễn ra một cảnh tượng không sao tả nổi: toàn trại đều đứng cả dậy như theo một hiệu lệnh. Cả đến những người những người suốt mấy ngày hôm nay không ngóc dậy, bây giờ cũng đứng được lên. Xung quanh tôi là những tiếng thì thầm sôi nổi, những tiếng nức nở nghẹn ngào cố nén... Có ai đó cạnh tôi khóc, rưng rức như đàn bà... cả tôi cũng thế... cả tôi cũng vậy... Trung uý Ghêraximốp nói nhanh, đứt quãng, rồi lặng thinh trong giây lát, nhưng sau đó trấn tĩnh lại được, anh kể tiếp, giọng đã bình thản hơn: Nước mắt chảy ròng ròng trên má tôi và đông cứng lại dưới làn gió... Ai đó hát bài “Quốc tế ca” bằng giọng yếu ớt. Chúng tôi hát thoe, giọng nhỏ nhẹ, khàn khàn. Bọn lính gác xả đại liên và tiểu liên vào chúng tôi rồi có tiếng ra lệnh: “Nằm xuống!”. Tôi nằm ngập mình trong tuyết và khóc như một đứa trẻ con. Nhưng đó không chỉ là những giọt nước mắt vui sướng, mà còn là những giọt nước mắt tự hào vì dân tộc ta. Bọn phát xít có thể giết chết chúng tôi, những người không có vũ khí trong tay, những người bại hoại vì đói, chúng có thể hành hạ chúng tôi, nhưng chúng không thể bẻ gẫy được tinh thần của chúng tôi, không bao giờ bẻ gẫy được. Tôi có thể nói thẳng rằng chúng đã chọn nhầm đối tượng để tấn công.
Đêm hôm đó, tôi không được nghe hết câu chuyện của trung uý Ghêraximốp. Anh được cấp tốc gọi lên ban tham mưu đơn vị. Nhưng chỉ vài hôm sau, chúng tôi lại gặp nhau. Trong căn hầm, mùi mốc và mùi nhựa thông xông lên. Trung uý ngồi trên chiếc ghế dài, lưng còng xuống, hai bàn tay bè bè đặt lên đầu gối, những ngón tay đan vào nhau. Nhìn anh, bất giác tôi nghĩ rằng ở đó, ở trong trại tù binh, anh đã quen ngồi như thế, yên lặng hàng giờ, những ngón tay đan vào nhau, đầu óc chìm đắm trong những suy nghĩ nặng nề, vô vọng...
- Anh hỏi tôi làm thế nào mà chạy thoát được à? Tôi sẽ kể anh nghe đây. Chẳng bao lâu, sau cái đêm nghe thấy tiếng đại bác nổ, chúng phái chúng tôi đi đào công sự. Mùa băng giá đã chuyển sang mùa tuyết tan. Trời mưa tầm tã. Chúng lùa chúng tôi lên phía bắc trại. Những cảnh ban đầu lại tái diễn. Những người bị kiệt sức ngã xuống, bị chúng bắn vứt xác trên đường...
Tên hạ sĩ Đức đã bắn chết một người, chỉ vì trên đường đi, anh ta nhặt một củ khoai tây lạnh cóng. Chúng tôi đi qua cánh đồng khoai tây. Trưởng nhóm chúng tôi tên là Gôntra người Ukraina nhặt lấy củ khoai tây đáng nguyền rủa đó định giấu đi. Tên hạ sĩ trông thấy. Hắn chẳng nói chẳng rằng bước lại gần Gôntra và bắn một phát vào gáy anh. Đoàn người dừng lại chỉnh đốn hàng ngũ. Tên hạ sĩ khoát rộng cánh tay nói: “Tất cả những thứ này đều là tài sản quốc gia Đức. Bất cứ đứa nào trong bọn chúng mày tự ý lấy cái gì cũng đều bị bắn chết!”.
Trong thôn mà chúng tôi đi qua, chị em phụ nữ trong thấy chúng tôi liền ném cho những mấu bánh mỳ, những củ khoai tây nướng. Có người trong số chúng tôi kịp nhặt lên, còn những người khác thì không kịp: bọn lính áp giải xả súng bắn vào các cửa sổ và ra lệnh cho chúng tôi đi nhanh lên. Nhưng Trong tay tôi đã có một khẩu tiểu liên và ba băng đạn. Tôi cắm cổ chạy. Và ngay khi đó, tôi cảm thấy mình không thể nào chạy được nữa. Thế là thôi, kiệt sức mất rồi! Tôi dừng lại, thở lấy hơi rồi lạy từ từ chạy. Bên kia khe, khu rừng rậm hơn, và tôi chạy về hướng đó. Cũng không nhớ tôi đã ngã bao nhiêu lần, đứng dậy và lại ngã... Nhưng cứ mỗi phút, tôi lại đi được xa hơn. Nấc lên và nghẹt thở vì mệt, dần dần, tôi sang được đến bên kia ngọn đồi, trong khi đó, xa xa phía sau tôi, vang lên hàng loạt liên thanh và tiếng la hét. Bây giờ thì bắt được tôi đâu phải dễ.
Đêm tối dần buông xuống. Mà nếu bọn Đức có lần được theo dấu vết tôi và đến được gần, thì tôi sẽ chỉ dành lại cho mình viên đạn cuối cùng thôi. Ý nghĩ đó làm cho tôi thêm can đảm, tôi bước đi khẽ khàng hơn, thận trọng hơn.
Đêm đó, tôi ngủ trong rừng. Có một làng xóm cách đây chừng nửa cây số, nhưng tôi không dám đến sợ chạm trán quân Đức.
Ngày hôm sau, anh em du kích nhặt được tôi. Hai tuần lễ liền tôi nằm trong hầm của họ và lấy lại được sức khoẻ. Lúc đầu họ cũng hơi nghi kỵ, mặc dầu tôi đã lấy chiếc thẻ Đảng viên trong lần lót áo capốt, mà hồi trong trại tù binh tôi có khâu lại qua loa, để đưa cho họ xem. Sau đó, khi tôi tham gia vào các trận đánh, thì quan hệ của họ đối với tôi lập tức thay đổi hẳn. Từ đó, tôi đã mở sổ tính đầu những tên phát xít bị tôi giết và ghi cẩn thận; cho đến nay, con số đó đã lên tới cả trăm.
Đến tháng giêng, anh em du kích dẫn tôi vượt mặt trận. Tôi nằm trong quân y viện gần một tháng. Người ta lấy mảnh đạn súng cối ở vai tôi ra, còn bệnh phong thấp và các thứ bệnh khác mắc ở trại tù binh thì để đến sau chiến tranh sẽ chữa. Từ quân y viện, người ta cho phép tôi về nhà để dưỡng sức. Tôi ở nhà được đúng một tuần, không thể nào hơn được nữa. Tôi cảm thấy buồn, chỉ có vậy thôi. Muốn nói gì thì nói, vị trí của tôi là ở đây cho đến cùng.
Chúng tôi chia tay nhau ngoài của hầm. Trung uý Ghêraximốp mơ màng nhìn ra con đường rừng tràn ngập ánh mặt trời rực rỡ, nói:
- ... Thế là chúng tôi đã học được cách chiến đấu thực sự, học được cả cách căm thù và cách yêu thương. Chiến tranh là một hòn đá mài, trong đó mọi thứ tình cảm đều được mài sắc. Tưởng chừng như tình yêu và lòng căm thù không thể nào đặt cạnh nhau được; anh cũng biết người ta thường nói: “Không thể thắng một con ngựa với một con nai run sợ vào cùng một chiếc xe - ấy thế mà chúng ta đã thắng cả hai vào một xe và chúng đã kéo rất khoẻ! Tôi căm ghét khôn cùng bọn phát xít và tất cả những điều chúng đã gây ra trên Tổ quốc tôi và cho cá nhân tôi, nhưng đồng thời tôi cũng có một lòng têu nhân dân tha thiết, và tôi không muốn nhân dân phải chịu đau khổ dưới gông xiềng bọn phát xít. Đó chính là điều đã khiến tôi, cũng như tất cả chúng ta chiến đấu kịch liệt như vậy. Chính hai tình cảm đó sau khi chuyển hoá thành hành động sẽ đưa chúng ta đến thắng lợi. Nếu tình yêu Tổ quốc được ấp ủ trong tim chúng tôi và sẽ được áp ủ đén khi nào trái tim ngừng đập, thì lòng căm thù đối với quân giặc luôn luôn được chúng tôi mang trên đầu lưỡi lê. Nếu những điều tôi vừa nói ra có hơi khó hiểu một chút, mong anh thứ lỗi cho, nhưng mà đúng là tôi nghĩ như thế đó”. Trung uý Ghêraximốp kết luận như vậy và trong suốt thời gian chúng tôi quen nhau, lần đầu tiên anh mỉm cười, một nụ cười bình dị, dễ thương như nụ cười trẻ thơ.
Và cũng là lần đầu tiên tôi nhận thấy mái tóc người trung uý mới ba mươi hai tuổi đã bạc trắng ở gần thái dương. Con người này đã bị bao nhiêu thiếu thốn dày vò, nhưng vẫn khoẻ mạnh, tráng kiện như một cây sồi. Mái tóc bạc vốn là kết quả của những nỗi đau khổ khôn cùgn ấy nom trong trắng đến nỗi một sợi tơ nhện trắng vương trên chiếc mũ calô của anh, khi buông tới thái dương liền biến ngay mất, và tôi cố nhìn mãi mà không tài nào thấy được.

1942.
Конец
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 5 thành viên gửi lời cảm ơn YuriYushakov cho bài viết trên:
hungmgmi (11-02-2010), Ngo_Lam_Vu (22-11-2012), ninh (11-02-2010), sad angel (05-12-2010), Viet Nga (15-02-2010)