Còn đây là chuyện xảy ra ở cách Rugin không xa. Trogn một cáci khe gần Xcơvira, chúng tôi đã thấy một địa điểm hành hình, ở đó chúng hành hạ những chiến sĩ hông quân bị bắt làm tù binh. Đồng chí đã có dịp đến các cửa hàng bán thịt chưa? Quang cảnh nơi đó cũng gần giống như thế đấy... Trên những cành cây mọc ở bờ khe, treo lủng lẳng những thân hình đẫm mãu không chân không tay bị lột gần hết da... Ở dưới đáy khe có tám người bị giết chất thành một đống. Không thể biết tay nào chân nào của nạn nhân nào nữa, tất cả chỉ là một đống thịt lớn bị chặt vụn, còn bên trên xếp tám cái mũ calô của Hồng quân thành chồng như xếp đĩa...
Anh thử nghĩ xem, liệu có thể dùng lời mà kể lại được tất cả những gì tôi đã nhìn thấy không? Không thể! Không có lời nào hết! Cảnh dó cần phải nhìn tận mắt. Nhưng thôi, nói về chuyện này thế là đủ rồi! Trung uý Ghêraximốp yên lặng hồi lâu. Tôi hỏi anh:
- Ở đây hút thuốc được chứ?
- Được. Lấy tay che đi mà hút – Anh trả lời giọng khàn khàn.
Rồi vừa hút, anh vừa kể tiếp:
- Anh có hiểu được rằng sau khi nhìn thấy tất cả những gì mà bọn phát xít gây ra cho ta, chúng tôi đã trở nên hung hãn như thú rừng và không thể nào khác được. Tất cả chúng tôi đều hiểu rằng chúng tôi đánh nhau không phải với người mà với một lũ quái thai chó má khát máu. Dường như bây giờ chúng tàn sát, hãm hiếp, hành tội dân ta cũng tỉ mỉ, cẩn thận như khi chúng chế tạo những cỗ máy vậy. Sau đó chúng tôi lại phải rút lui, nhưng chúng tôi đã chiến đấu như quỷ dữ! Trong đại đội chúng tôi, hầu hết các chiến sĩ đều là người Xibia. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn chiến đấu quyết liệt để bảo vệ đất Ukraina. Rất nhiều đồng hương của tôi đã ngã xuống trên mảnh đất Ukraina, nhưng cũng trên mảnh đất này, bọn phát xít đã phải chết nhiều hơn chúng tôi. Phải, chúng tôi đã rút lui, nhưng cũng đã nên cho chúng nên thân.
Trung uý Ghêraximốp hút một hơi thuốc thật dài rồi nói bằng giọng khác, dịu dàng hơn:
- Đất đai miền Ukraina thật là tốt, còn thiên nhiên ở đó thì tuyệt! Mỗi một làng, một xóm nhỏ đối với chúng tôi đều thân thiết, có lẽ vì chúng tôi đã đổ máu mình xuống đó không tiếc, mà như người ta thường nói, máu kết chặt tình thân.... Cứ mỗi khi phải bỏ một làng nào, là trái tim chúng tôi cứ nhói lên, nhói lên không chịu nổi. Thật là tiếc, tiếc đến đứt ruột! Chúng tôi ra đi mà chẳng dám nhìn vào mắt nhau.
... Khi đó, tôi không nghĩ rằng mình có thể bị bọn phát xít bắt làm tù binh, thế mà việc đó đã xảy ra. Vào quãng tháng Chín, tôi bị thương lần đầu nhưng vẫn ở lại đội ngũ. Đến ngày hai mươi mốt, trong một trận đánh ở Đênixốpka thuộc tỉnh Pôntava, tôi bị thương lần thứ hai và bị bắt làm tù binh.
Xe tăng Đức chọc thủng sườn trái của chúng tôi, theo sau chúng là bộ binh đổ vào. Chúng tôi đã chiến đấu, phá được vòng vây. Trong ngày hôm đó, đơn vị tôi bị tổn thất rất nặng. Hai lần, chúng tôi đẩy lui cuộc tấn công bằng xe tăng của quân địch, bắn cháy và bắn bị thương sau chiếc xe tăng và một chiếc xe bọc thép, quật ngã khoảng một trăm hai mươi tên lính Hitler trên cánh đồng ngô, rồi sau đó chúng đưa các đại đội súng cối đến, chúng tôi đành phải bỏ điểm cao mà chúng tôi đã giữ suốt từ lúc giữa trưa đến bốn giờ chiều. Từ sáng, trời đã nóng nực. Trên bầu trời không một gợn mây, mặt trời hun nóng như thiêu như đốt, nóng đến không thở được. Đạn súng cối rơi dày đặc đến kinh khủng và tôi còn nhớ là khát nước đến nỗi môi ai cũng đen sì, còn tôi thì ra lệnh bằng giọng khản đặc, cứ như không phải giọng của mình. Chúng tôi vừa chạy đến một chỗ trũng thì một quả đạn cối nổ ngay trước mặt. Hình như là tôi chỉ kịp nhìn thấy một cột đất và bụi đen sì và thế là hết. Một mảnh đạn súng cối bắn thủng các mũ sắt của tôi, mảnh thứ hai trúng vào vai phải.
Tôi không nhớ mình đã nằm bất tỉnh bao lâu, nhưng tiếng bước chân người thình thịch làm tôi tỉnh lại. Cất đầu lên thì thấy đang nằm không phải ở chỗ mình ngã xuống. Bộ quân phục trên người không còn nữa, vai đã được ai đó băng bó vội vã. Không có cả chiếc mũ sắt trên đầu. Đầu cũng đã được ai đó baưng cho, nhưng băng buộc không chặt, một đầu băng buông thõng xuống ngực. Trong khoảnh khắc, tôi đã nghĩ rằng anh em chiến sĩ của tôi đã mang tôi theo và trên đường đã băng cho tôi; và khi cố gắng nhấc đầu lên để nhìn quanh tôi hy vọng sẽ nhìn thấy anh em mình. Nhưng chạy lại với tôi không phải là anh em mình, mà là bọn Đức. Chính tiếng bước chân của bọn chúng đã làm tôi tỉnh lại. Tôi nhìn thấy chúng rõ mồn một như xem một cuốn phim tốt. Tôi quờ tay tìm xung quanh. Bên tôi không còn một thứ vũ khí nào cả: không có súng ngắn, không có súng trường và ngay cả lựu đạn cũng không nốt. Một đồng chí nào đã lấy bản đồ và vũ khí của tôi đi rồi.
Tôi nghĩ thầm: “Đã đến lúc chết rồi đây!”. Tôi còn nghĩ gì trong lúc này nữa nhỉ? Nếu anh muốn viết một cuốn tiểu thuyết sau này, thì cứ nghĩ ra mà viết, còn tôi khi đó tôi chẳng kịp nghĩ gì cả. Bọn Đức đang ở rất gần, còn tôi thì không muốn nừam như vậy mà chết. Đơn giản là tôi không muốn, tôi không thể nằm như vậy mà chết, hiểu không? Tôi thu hết sức lực chống hai tay xuốgn đất quỳ lên. Khi chúng chạy đến gần thì tôi đã đứng lên được. Tôi đứng dậy, lảo đảo, chỉ sợ lại ngã xuống và chúng sẽ đâm cho một lưỡi lê khi tôi đang nằm. Tôi không còn nhớ một khuôn mặt nào cả. Chúng vây quanh tôi vừa cười vừa nói điều gì đó. Tôi bảo: “Nào, hãy giết tao đi, bọn khốn kiếp! Giết ngay tao đi kẻo tao lại ngã xuống bây giờ”. Một đứa trong bọn chúng đập cho tôi một báng súng vào gáy, tôi ngã xuống nhưng lại vùng dậy ngay. Chúng cười phá lên và một đứa trong bọn vẫy tay ra hiêu bảo: đi, đi về phía trước. Tôi bước đi. Khắp mặt tôi máu đọng cứng lại; từ vết thương trên đầu, dòng máu rất ấm và nhơm nhớp vẫn rỉ ral vai rất đau và tôi không thể nhấc tay phải lên được. Tôi nhớ lúc đó tôi chỉ muốn nằm xuống, không đi đâu nữa, thế mà chân tôi vẫn cứ bước...
Không, tôi hoàn toàn không muốn chết và lại còn không muốn bị bắt làm tù binh. Phải tốn bao nihêu sức lực mới dẹp được cơn nhức đầu và buồn nôn, tôi vẫn bước đi, và như thế có nghĩa là tôi vẫn đang còn sống và còn có thể hành động được. Chao ôi, cơn khát dày vò tôi mới ghê chứ! Miệng thì nóng bỏng và suốt thời gian chân bước đi, trước mắt tôi lúc nào cũng như có một tấm rèm đen lay động. Tôi gần như mê man, nhưng vẫn vừa đi vừa nghĩ: “Kiếm được ngụm nước uống, nghỉ một lát, rồi lập tức chạy trốn!”.
Ở một chố trống trong khu rừng, chúng tập trung tất cả anh em tù binh, bắt xếp hàng lại. Tất cả đều là các chiến sĩ thuộc đơn vị bên cạnh. Tôi chỉ nhận ra có hai chiến sĩ đại đội 3 thuộc trung đoàn mình. Phần lớn tù binh đều bị thương. Tên trung uý Đức, bằng thứ tiếng Nga rất tồi, hỏi xe trong chúng tôi có ai là chính trị viên hay đại đội trưởng không. Tất cả đều im lặng. Nó hỏi lại lần nữa: “Chính trị viên và sĩ quan tiến lên hai bước!”. Không ai bước ra khỏi hàng.
Tên trung uý chậm rãi bước đi trước hàng và chọn ra khoảng mười sau người, trông có vẻ giống người Do Thái. Hắn hỏi từng người một: “Do Thái phải không?” rồi không đợi trả lời, hắn ra lệnh bước ra khỏi hàng. Trong số những người hắn chọn ra có người Do Thái, người Acmêni, và có những người chỉ là người Nga, nhưng đều da ngăm ngăm và tóc đen. Chúng đẩy họ đứng sang một bên rồi dùng tiểu liên bắn ngay trước mắt chúng tôi. Sau đó, chúng khám xét qua loa rôìo tịch thu hết ví tiền và mọi vật dụng cá nhân. Tôi không bao giờ bỏ thẻ Đảng vào trong ví tiền vì sợ đánh mất; tôi thường cất nó trong túi quần trong và vì thế chúng không tìm thấy. Con người thật là một sinh vật kỳ lạ: tôi biết một cách chắc chắn rằng sinh mệnh của tôi đang treo trên sợi tóc, và nếu chúng không giết tôi khi tôi tìm cách chạy trốn, thì đằng nào chúng cũng giết tôi trên đường, vì tôi bị mất quá nihều máu, khó mà theo kịp được anh em; nhưng khi bị khám xong, chiếc thẻ Đảng vẫn còn trong người, tôi lại cảm thấy vô cùng sung sướng, đến mức quên cả khát!
Bọn địch xếp chúng tôi theo đội hình hành quân rồi dồn về phía tây. Một đội áp giải khá đông đi hai bên đường và khoảng mười chiếc môtô đi kèm. Chúng thúc chúng tôi phải đi nhanh, nhưng sức tôi đã kiệt. Đã hai lần tôi ngã xuống, nhưng lại đứng và đi tiếp, vì tôi biết rằng chỉ cần nằm lại một phút, mọi người sẽ đi qua và chúng sẽ bắn tôi chết ngay trên đường. Có một đồng chí thượng sĩ đi trước tôi đã bị như vậy. Đồng chí ấy bị thương ở chân, đi rất khó khăn, vừa đi vừa rên rỉ, đôi khi đau quá phải kêu lên. Chúng tôi đi được khoảng một cây số thì đồng chí ấy kêu to lên:
- “Không, tôi không thể đi được nữa. Vĩnh biệt các đồng chí!”. Và ngồi lại ngay giữa đường.
Anh em vừa đi vừa cố xốc đồng chí đó đứng lên, nhưng đồng chí ấy lại tuột ngay xuống đất. Như trong giấc mơ, tôi còn nhớ khuôn mặt rất trẻ của đồng chí ấy, nhợt nhạt, đôi mày nhíu lại, đôi mắt ướt đẫm lệ... Đoàn người đi qua. Đồng chí ấy ngồi lại ở phía sau. Tôi quay nhìn lại và thấy một tên lái môtô đến sát gần và cứ ngồi trên xe rút súng lục ra khỏi bao, dí vào tai đồng chí thượng sĩ đó mà bóp cò. Tới khi đi đến bờ sông, bọn phát xít đã bắn chết thêm vài chiến sĩ Hồng quân tụt lại phía sau nữa.
Tôi đã trong thấy con sông, chiếc cầu bị phá và một chiếc xe vận tải bị sa lầy ở chỗ lội, tại đó tôi đã ngã sấp mặt xuống. Tôi có ngất đi không? Không, tôi không ngất. Tôi nằm sõng soài, bụi cát vào đầy miệng, tôi điên tiết nghiến răng lại, cát xào xạo trong miệng tôi, nhưng tôi không thể nào đứng lên được. Các đồng chí bước ngang qua chỗ tôi. Một người nói nhỏ: “Đứng dậy ngay không chúng nó giết đấy!”. Tôi lấy ngon tay cào vào miệng, ấn vào mắt, mong rằng cơn đau sẽ giúp tôi đứng lên được.
Cả đoàn người đã đi qua, tôi đã nghe thấy tiếng bánh xe của tên lính đi môtô xành xạch tiến lại gần. Và dù sao tôi cũng đã đứng dậy được! Không nhìn tên lính đi môtô, tôi bước lảo đảo như người say rượu, buộc mình phải đuổi kịp đoàn người và sóng vào hàng cuối cùng. Nước sông bị xe tăng và ôtô Đức lội qua đã khuấy cho đục ngầu, thế mà chúng tôi vẫn uống, uống cái thứ nước nâu nâu âm ấm đó, và cảm thấy nó còn ngọt hơn thứ nước suối khoáng tốt nhất. Tôi nhúng cả đầu và vai xuống nước. Tôi tỉnh cả người và thấy mình khoẻ lại. Bây giờ thì tôi có thể bước đi với hy vọng là sẽ không bị ngã và không bị nằm lại trên đường.
Chúng tôi vừa đi khỏi bờ sông lên đường cái, thì gặp một đoàn xe tăng hạng trung của bọn Đức. Chúng đi ngược lại phía chúng tôi. Tên lái chiếc xe tăng đi đầu, nhìn thấy chúng tôi là tù binh, bèn dận hết ga cho xe xông thẳng vào đoàn chúng tôi. Những hàng đầu bị xích xe nghiến nát. Bọn lính áp giải đi bộ và bọn lính đi môtô đứng nhìn cảnh đó cười ầm ĩ, chúng lấy tay vẫy vẫy nói gì đó với bọn lính tăng đang thò đầu ra ngoài tháp xe. Sau đó chúng lại xếp chúng tôi thành hàng ngũ và dồn sang một bên đường.
Bọn chúng đùa cợt như thế đó, còn biết nói gì nữa bây giờ....
Buổi chiều và đêm hôm đó, tôi không tìm cách chạy trốn, tôi hiểu rằng mình không thể nào đi thoát được vì tôi còn rất yếu do bị mất quá nhiều máu, vả lại chúng canh gác rất nghiêm ngặt và mọi cố gắng để chạy trốn sẽ chỉ gặp thất bại. Nhưng sau này, tôi cứ rủa thầm mình không biết bao nhiêu lần là tại sao không thử xem! Buổi sáng, chúng lùa chúng tôi qua một thôn có một đơn vị Đức chiếm giữ. Bọn bộ binh Đức chạy ra phố xem chúng tôi. Bọn áp giải bắt chúng tôi phải chạy nước kiệu qua suốt làng. Chúng cần phải làm nhục chúng tôi trước mặt các đơn vị Đức sắp ra mặt trận. Thế là chúng tôi phải chạy. Người nào ngã hoặc tụt lại lập tức bị bắn chết. Đến chiều thì chúng tôi đến trại tù binh.
Đó là sân của một trạm máy kéo, chung quanh chăng giây thép gai rất dầy. Trong sân tù binh đứng chen chúc. Chúng tôi bị giao cho bọn quản trại và bọn này dùng báng súng lùa chúng tôi vào bên trong hàng rào giây thép gai. Nếu nói rằng cái trại tù binh này là địa ngục, thì nghĩa là chẳng nói được gì cả. Không có cả chỗ đi vệ sinh. Mọi người đại tiểu tiện ngay tại chỗ đứng, nằm ngay trên phân và nước bẩn. Những người yếu nhất không đứng được nữa. Mỗi ngày chúng phát thức ăn và nước uống một lần. Một ca nước, một nhúm kê sống hoặc hạt hướng dương thối, ngoài ra chẳng có gì. Đôi khi chúng quên chẳng phát gì cả....
Hai ngày sau, trời mưa rất to. Bùn bẩn trong trại ngập lên đến đầu gối. Buổi sáng, thân thể ẩm ướt của chúng tôi bốc hơi như ngựa, mà mưa vẫn như trút, không ngớt... Mỗi đêm, chết đến mấy chục người. Tất cả chúng tôi đều mỗi ngày một yếu đi do đói ăn. Thêm vào đó, tôi còn bị những vết thương dày vò khổ sở.
Đến ngày thứ sáu, tôi thấy vai và vết thương trên đầu đau quá. Bắt đầu mưng mủ. Sau đó có mùi thối. Bên cạnh trại có mấy cái chuồng ngựa của nông trường, là chỗ để các chiến sĩ Hồng quân bị thương nặng. Buổi sáng, tôi xin phép tên hạ sĩ quan canh giữ chúng tôi để đến tìm bác sĩ mà tôi nghe nói là đang chăm sóc thương binh. Tên hạ sĩ nói tiếng Nga rất thạo. Hắn nói: “Đi đi, thằng Nga, đi mà tìm bác sĩ của chúng mày. Nó sẽ giúp mày ngay đấy!”.
Lúc đó tôi không hiểu là hắn nói giễu, liền vui mừng đi đến chỗ chuồng ngựa.
Đồng chí bác sĩ quân y hạng ba đón tôi ở cửa. Anh thật đã thân tàn ma dại. Anh chỉ còn da bọc xương, kiệt sức và cũng hoá ra dở điên dở dại vì những điều đã phải trải qua. Thương binh nằm trên những ổ phân, bị ngạt thở vì mùi hôi thối ghê gớm ngập ngụa trong chuồng ngựa. Phần lớn các vết thương đã lúc nhúc ròi bọ, ai còn sức thì lấy tay hoặc lấy que mà gẩy ra khổi vết thương !!!. Ngay đó, bên cạnh cửa, có một đống xác tù binh chết chưua kịp đem đi.
Đồng chí bác sĩ hỏi tôi: “Đồng chí đã trông thấy chưa? Tôi lấy gì mà giúp đồng chí bây giờ? Tôi không có lấy một mảu băng, không có chút gì hết! Tôi van đồng chí, đồng chí hãy đi khỏi đây, đi đi! Đồng chí hãy tháo băng ra rồi lấy tro mà rắc vào. Ở bên cạnh cửa có tro mới đấy!”.
Tôi làm theo lời đồng chí ấy. Tên hạ sĩ gặp tôi ở cửa ngoác mồm cười: “Thế nào? Lính các ông có một vị bác sĩ tuyệt vời phải không? Ngài đã chăm sóc ông rồi chứ?”. Tôi muốn lặng thinh đi qua nhưng nó đấm vào giữa mặt tôi và thét lên: “Mày không muốn trả lời à, đồ súc vật?”. Tôi ngã xuống và hắn lấy chân đá mãi vào ngực, vào đầu tôi. Hắn đánh cho đến lúc thấm mệt. Cho đến chết, tôi cũng không quên tên phát xít này, không, tôi không bao giờ quên nó! Sau đó, hắn còn đánh tôi nhiều lần. Cứ thoáng thấy bóng tôi qua hàng rào giây thép gai là hắn gọi tôi ra và đánh tôi lặng lẽ, chăm chú đánh...
Anh hỏi làm sao tôi còn sống sót được ư?
Trước chiến tranh, khi chưa làm thợ máy, tôi khuân vác trên bờ sông Cama, mỗi lúc dỡ hàng, tôi vác đến hai bao muối, mỗi bao một tạ. Sức của tôi như vâm, không có gì đáng phàn nàn, hơn nữa cơ thể tôi khoẻ mạnh, nhưng điều chủ yếu là tôi không muốn chết, ý chí đề kháng của tôi rất mãnh liệt. Tôi cần phải trở lại đội ngũ những chiến sĩ bảo vệ Tổ quốc, và tôi đã trở về để trả thù kẻ địch cho đến cùng!
|