Chương năm
Chúng tôi nhận được các chỉ dẫn từ Iếc-cút chuyến thám hiểm đầu tiên của các nhà nghiên cứu máy chiếu thời gian, những điều mà chúng tôi được biết về số phận của Rô-đa-nốp ở Iếc-cút.
Chúng tôi báo tin cho Đa-ni-ép-xki biết những kết quả đầu tiên về công việc của chúng tôi, và đồng chí ấy đã báo cáo lại cho Đoàn chủ tịch Viện Hàn lâm khoa học. Những đề nghị của chúng tôi được chấp nhận, về sau đó ít lâu, chúng tôi được cấp một máy bay. Chúng tôi có thể đi ngay đến Chu-cốt-ca, nhưng chiếc máy chiếu thời gian đã giữ chúng tôi lại gần một tháng. Ở đây phải chỉ rõ điều mà chúng tôi vẫn chưa nói, mặc dù nó phức tạp và rất nhạy, máy chiếu thời gian không cồng kềnh lắm... Khi dự kiến thiết kế máy, Bê-rê-xkin đã có dụng ý chế tạo nó sao cho có thể mang vác được. Nói thế không có nghĩa là có thể xách nó như xách cái vali, nhưng lại có thể xếp nó dễ dàng trên ô tô hay máy bay. Tuy nhiên, đặt ngoại các bức tượng của Viện máy tình, máy chiếu thời gian cần có cả một loạt các thiết bị phụ. Chính việc lắp ráp các thiết bị này đã giữ chúng tôi lại Mát-xcơ-va.
Chúng tôi không phàn nàn gì về điều này. Thứ nhất, vì mùa hè đã đến. Và thứ hai... thứ hai là chúng tôi nhận được từ Iếc-cút những tin tức hoàn toàn bất ngờ. Một trong những nhân viên của Viện bảo tàng địa phương, rất am hiểu Xi-bê-ri, đã được xem yêu cầu của Viện Hàn lâm gửi Viện Lưu trữ của thành phố, viết thư cho chúng tôi nói rằng ông không biết tí gì về đoàn thám hiểm Jin-xốp, những ngược lại ông biết rất rõ Rô-đa-nốp, một người Bôn-sê-vich và là hồng vệ binh, đã đấu tranh cho chính quyền Xô-viết địa phương chống lại Côn-sắc. Nếu đó cũng là Rô-đa-nốp, người đã tham gia vào đoàn thám hiểu Jin-xốp, thì khi chúng tôi đến Iếc-ctus, ông ta có thể cung cấp những tin tức chính xác - ông ta nói rõ như vậy.
Máy bay của đoàn chúng tôi có mang theo máy chiếu thời gian, bay đến Iếc-cút...
Người nhân viên của Viện bảo tàng, đã đợi chúng tôi ở sân bay cùng với một chiếc xe tải nhỏ của Xô-viết thành phố dành riêng cho chúng tôi ( chắc các đồng chi ấy tưởng rằng chúng tôi sẽ xếp chiếc máy lên đấy). Chúng tôi vừa mới đến thì ông ta đã đề nghị chúng tôi đến thăm Rô-đa-nốp. Ông ta nói điều này như thể Rô-đa-nốp còn sống.
- Rất tiếc là không, ông trả lời khi tôi hỏi ông. Đồng chí ấy chỉ còn sống trong trí nhớ của người dân Xi-bê-ri thôi.
Đã 6 giờ sáng, xe ô tô của chúng tôi chạy qua các dãy phố màu xanh và yên tĩnh của Iếc-cút, và khi ra khỏi thành phố, con đường rẽ ngoặt sang một bên bám sát sông Ăng-ga-ra và không bao giờ rời xa nó nữa.
Một lớp mây mỏng bao phủ bầu trời, một làn sương mù trắng bay là là trên tháp Ăng-ga-ra và người ta có cảm giác là con sông đang thờ, đưa đến tận chỗ chũng tôi hơi thở lạnh và ẩm của nó. Ngồi trong thùng sau của xe, Bê-rê-xkin, người nhân viên của bảo tàng và tôi, chúng tôi đều giữ yên lặng. Con đường chạy dọc theo các khu rừng bạch dương và thông, những khu người ở bên bờ sông, và tôi ngạc nhiên nghĩ rằng chẳng bao lâu nữa tất cả sẽ nằm dưới nước. Thật vậy, hồ nhân tạo mới sẽ phải nằm tại đấy. Dần dần sương mù trên mặt sông tan đi và bây giờ chúng tôi trông thấy bóng các thuyền đánh cá trên mặt nước. Chiếc xe chạy qua các luồng không khí, lúc lạnh, lúc ấm, nhưng trời mỗi lúc mỗi nóng và đôi khi mặt trời lại ló ra. Bây giờ chúng tôi phân biệt rõ các đỉnh núi phủ đầy cây ở bở bên trái và dải hẹp của con đường xe lửa ngay bên vệ nước. Bỗng nhiên, con sông và theo nó, cả con đường nữa, rẽ ngoặt đột ngột, và chúng tôi trông thấy giữa hai dải đất một vạt nước rộng trong vắt: hồ Bai-can...
Chúng tôi dừng lại ở làng Lit-vê-nit-nôi-ê và người dẫn đường đưa chúng tôi đến một ngọn đồi, sườn đồi mọc đầy thông và bạch dương. Con đường nhỏ đi ngược mãi lên, và trước khi tới nơi, chúng tôi đã trông thấy rõ một tấm bia trắng dựng trên một nấm mồ chung... Giữa những tên được khắc trên tấm đá hoa, chúng tôi tìm thấy cái tên quen thuộc: S. Rô-đa-nốp...
- Đồng chí ấy là ủy viên Ban chấp hành đảng bộ Iếc-cút... thuộc Đảng cộng sản ( Bôn-sê-vich) Nga, người nhân viên của bảo tàng nói. Và đồng chí ấy đã là một trong những người lãnh đạo cuộc nổi dậy chống Côn-sắc. Đồng chí ấy đã hy sinh ở gẫn Lit-vê-nit-nôi-ê, bên bờ hồ Bai-can, tháng giêng năm 1920.
... Chúng tôi đứng im lặng trong giây lát, đầu trần và làn gió nhẹ ban mai luồn vào tóc chúng tôi. Nền trời xanh lơ, trong suốt, in trên mặt hồ Bai-can. Mặt hồ hiện ra êm ả, vĩ đại và giản dị. Một tàu kéo nhỏ rời bến hồ có một thị trận lớn với những căn nhà vững chắc làm bằng các thân cây thông, và những bóng dáng em nhỏ đi trên đường phố lớn tới trường.
(Hết chương năm)