Vladimir Vladimirovich Nabokov (tiếng Nga: Влади́мир Влади́мирович Набо́ков; 22 tháng 4 năm 1899 – 2 tháng 7 năm 1977) là một nhà văn, nhà thơ Nga, sáng tác bằng tiếng Nga và tiếng Anh. Nabokov là tác giả của nhiều tiểu thuyết nổi tiếng thế giới, trong đó, tiểu thuyết Lolita được quay thành nhiều bộ phim nổi tiếng. Ngoài văn xuôi và thơ, ông còn là dịch giả, dịch những tác phẩm kinh điển từ tiếng Nga sang tiếng Anh và ngược lại

-Sinh ngày: 22 tháng 4 năm 1899
tại Sankt-Peterburg, Nga
-Mất ngày: 2 tháng 7 năm 1977
tại Montreux, Thụy Sĩ
-Nghề nghiệp: nhà văn, nhà nghiên cứu bướm, giáo sư
-Trường phái: hiện đại, hậu hiện đại
-Tác phẩm chính: Lolita
-Ảnh hưởng tới: Martin Amis, John Banville, Jeffrey Eugenides, Thomas Pynchon, Salman Rushdie, John Updike, Edmund White
-Ảnh hưởng bởi: Andrei Bely, Chekhov, Flaubert, Nikolai Gogol, Edgar Allan Poe, Marcel Proust, Thomas Mayne Reid
Tiểu sử
Vladimir Nabokov sinh ở Sankt-Peterburg trong một gia đình quí tộc giàu có và lâu đời. Ông nội từng là Bộ trưởng Tư pháp trong chính phủ Nga hoàng Aleksandr II và Aleksandr III. Bố là một nhà chính trị nổi tiếng, sau cách mạng tháng Hai làm bộ trưởng Tư pháp trong chính phủ lâm thời Nga. Mẹ cũng là con gái của một nhà có dòng dõi quí tộc. Mặc dù vậy, Vladimir Nabokov là người hờ hững với chính trị. Tuổi nhỏ Nabokov thích sưu tập tem và nghiên cứu cuộc sống các loài bướm. Từ năm 1911 – 1916 học ở trường trung học Tenishevsky, nơi trước đấy Osip Mandelstam từng học. Năm 1916 in tập thơ đầu tiên Стихи (Thơ). Sau Cách mạng tháng Mười, Nabokov chuyển xuống vùng Crimea, nơi bố làm Bộ trưởng Tư pháp của cộng hoà Crimea. Sau khi Hồng quân chiếm Crimea, cả gia đình đi ra nước ngoài (tháng 4 năm 1919). Những năm 1919 – 1922 Nabokov học văn học Nga và văn học Pháp ở Đại học Cambridge; sau khi tốt nghiệp ông trở về Berlin cùng với gia đình. Năm 1927 ông cưới vợ và viết cuốn tiểu thuyết đầu tiên: Машенька. Thời gian từ năm 1927 đến năm 1937 ông viết 8 tiểu thuyết bằng tiếng Nga.
Cuối thập niên 1930 Đức quốc xã nắm chính quyền ở Đức, gia đình Nabokov chuyển sang Paris; khi Thế chiến thứ hai xảy ra, cả gia đình sang Mỹ. Vì không còn cộng đồng người Nga ở châu Âu nên không còn bạn đọc bằng tiếng Nga, kể từ đây Nabokov chuyển sang sáng tác bằng tiếng Anh.
Cuốn tiểu thuyết bằng tiếng Anh đầu tiên The Real Life of Sebastian Knight (Cuộc đời thực của Sebastian Knight, 1941), tiếp đến là nhiếu tiểu thuyết bằng tiếng Anh mà nổi tiếng nhất là Lolita, in ở Pháp năm 1955, ở Mỹ năm 1958, ở Anh năm 1959. Năm 1960 Nabokov trở về sống ở Montreux, Thuỵ Sĩ và tiếp tục viết một số tiểu thuyết, đáng kể nhất có Pаle Fire (Lửa nhạt, 1962), Ada, or Ardor (Ada hay Ardor, 1969). Ngoài sáng tác, Nabokov còn là một dịch giả thiên tài, ông là tác giả của các bản dịch Слово о полку Игореве (Bài ca về binh đoàn Igor), Евгений Онегин (Evgeny Onegin), thơ trữ tình của Pushkin, Lermontov, Tyutchev sang tiếng Anh; Alice's Adventures in Wonderland từ tiếng Anh sang tiếng Nga cũng như nhiều tiểu thuyết của mình. Vladimir Nabokov nói về mình: “Tôi là nhà văn Mỹ, sinh ở nước Nga, học văn học Pháp ở Anh trước khi chuyển về Đức ở 15 năm… Đầu tôi nói chuyện bằng tiếng Anh, tim tôi – bằng tiếng Nga, tai tôi – bằng tiếng Pháp”.
Vladimir Nabokov mất tại Montreux, Thuỵ Sĩ để lại cuốn tiểu thuyết The Original of Laura (Laura thực) đang viết dở.
- Tác phẩm
Văn xuôi viết bằnng tiếng Nga
Машенька (Mashen'ka, 1926)
Король, дама, валет (Vua, hậu và con nhép, 1928)
Защита Лужина (Bảo vệ Luzhina, 1930)
Соглядатай (Sogliadatai, 1930)
Подвиг (Chiến công, 1932)
Камера Обскура (Buồng Obscura, 1932)
Отчаяние (Tuyệt vọng, 1936)
Дар (Quà tặng, 1938)
- Văn xuôi viết bằng tiếng Anh
The Real Life of Sebastian Knight (Cuộc đời thực của Sebastian Knight, 1941)
Bend Sinister, 1947
Lolita, 1955 (tác giả tự dịch sang tiếng Nga, 1965)
Pnin, 1957
Pale Fire (Lửa nhạt, 1962)
Ada, or Ardor (Ada hay Ardor, 1969)
Transparent Things (Những vật trong suốt, 1972)
Look at the Harlequins! (Hãy nhìn Harlequins!, 1974)
- Thơ
Стихи (Thơ, 1916)
Альманах: Два пути (Hai con đường, 1918)
Горний путь». Берлин: Грани, 1923.
Возвращение Чорба: Рассказы и стихи (Chorba trở về: truyện và thơ, 1930)
Стихотворения 1929—1951 (Thơ 1929-1951), 1952
Poems. Garden City, 1959
Poems and Problems, 1971
Стихи, 1979
- Dịch thuật
Từ Anh sang Nga
Alice's Adventures in Wonderland (1923)
Từ Nga sang Anh
Three Russian Poets: Selections from Pushkin, Lermontov, and Tyutchev (Ba nhà thơ Nga: Pushkin, Lermontov, Tyutchev, 1947)
A Hero of Our Time, by Mikhail Lermontov (Anh hùng của thời đại chúng ta, truyện của M. Lermontov, 1958)
The Song of Igor's Campaign (Bài ca về binh đoàn Igor, 1960)
Eugene Onegin, by Aleksandr Pushkin (Evgeny Onegin của Pushkin, 1964)

Nhà của Vladimir Nabokov ở Sankt-Peterburg
- Một vài bài thơ
Будь со мной прозрачнее и проще
Будь со мной прозрачнее и проще:
у меня осталась ты одна.
Дом сожжен и вырублены рощи,
где моя туманилась весна,
где березы грезили и дятел
по стволу постукивал... В бою
безысходном друга я утратил,
а потом и родину мою.
И во сне я с призраками реял,
наяву с блудницами блуждал,
и в горах я вымыслы развеял,
и в морях я песни растерял.
А теперь о прошлом суждено мне
тосковать у твоего огня.
Будь нежней, будь искреннее. Помни,
ты одна осталась у меня.
-Em hãy giản đơn, hãy trong suốt hơn
Em hãy giản đơn, hãy trong suốt hơn
Anh bây giờ chỉ mình em còn lại
Rừng đã trụi và ngôi nhà đã cháy
Còn mùa xuân đã mờ mịt màn sương.
Nơi ấy mơ màng những cây bạch dương
Chim gõ kiến gõ đều trên chóp ngọn
Anh để mất bạn bè trong trận đánh
Và sau này đã mất cả quê hương.
Trong giấc mơ, với ảo ảnh mơ màng
Ngoài đời thực, anh lầm đường lạc lối
Điều tưởng tượng để mất trong rừng núi
Những bài ca đánh mất giữa đại dương.
Và bây giờ về quá khứ đau buồn
Bên bếp lửa tình em, anh sưởi ấm
Em hãy chân thành, dịu dàng, đằm thắm
Và hãy nhớ rằng chỉ còn lại mình em.
-Пускай все горестней и глуше
Пускай все горестней и глуше
уходит мир в стальные сны...
Мы здесь одни, и наши души
одной весной убелены.
И вместе, вместе, и навеки,
построим мир - незримый, наш;
я в нем создал леса и реки,
ты звезды и цветы создашь.
И в этот век огня и гнева
мы будем жить в веках иных -
в прохладах моего напева,
в долинах ландышей твоих.
И только внуки наших внуков -
мой стих весенний полюбя -
сквозь тень и свет воздушных звуков
увидят - белую - тебя...
-Mặc tất cả lặng im và cay đắng
Mặc tất cả lặng im và cay đắng
Đời đi vào những giấc mộng thép gang…
Ở nơi này chỉ còn anh và em
Tâm hồn ta giữa mùa xuân màu trắng.
Và ta sẽ cùng nhau muôn thuở
Xây cuộc đời – không nhìn thấy nghe em
Anh sẽ tạo nên rừng núi và sông
Còn em sẽ tạo hoa và sao nhé.
Thế kỉ này này cuồng điên và khói lửa
Ta sẽ sống trong thế kỉ khác nghe em –
Trong tươi mát những bài ca của anh
Trong thung lũng của em hoa đua nở.
Chỉ con cháu của ta, theo năm tháng
Yêu thơ mùa xuân mát mẻ của anh
Qua ánh sáng, bóng tối của âm thanh
Và chúng sẽ nhìn thấy em – màu trắng…
(Bản dịch của Nguyễn Viết Thắng)
Từ wikipedia