View Single Post
  #10  
Cũ 07-12-2009, 05:46
vhnga vhnga is offline
Bánh mì đen - Черный хлеб
 
Tham gia: Jun 2009
Bài viết: 76
Cảm ơn: 51
Được cảm ơn 51 lần trong 26 bài đăng
Default

“Xong cả chưa?„ Pilat thì thầm với mình không thành tiếng. „Xong cả rồi. Tên ấy là...“
Và ném phụ âm “r” ra như một tràng sấm xuống thành phố đang câm lặng, ngài gầm lên:
„Var-ravvan!»
Nói vừa dứt lời, Pilat tưởng chừng như mặt trời chợt ngân lên, kêu loảng xoảng, nổ tung ra và rót lửa vào hai tai ngài. Trong ngọn lửa đó sôi sục những tiếng gào thét, tiếng rên rỉ, tiếng reo cười, tiếng rú rít.
Pilat quay ngược bước theo bệ đài đi trở lại phía bậc thềm lên xuống, mắt không nhìn bất cứ một vật gì khác ngoài những viên đá lát nhiều màu dưới chân để khỏi sảy bước. Ngài biết rằng, giờ đây sau lưng ngài, những quả chà là, những đồng tiền đồng đang bay như mưa lên bệ đài, và trong đám đông gào hét kia mọi người chen lấn nhau, leo lên vai nhau để mong tự mắt mình nhìn thấy điều kỳ diệu cái người vừa mới đây còn nằm trong móng vuốt thần chết giờ đã thoát ra khỏi. Những tên lính legio cởi dây trói trên người hắn xuống, vô tình gây cho hắn những cơn đau nhức nhối trên cánh tay đã trật khớp vì bị trói trong lúc hỏi cung; và hắn, vừa nhăn nhó, vừa rên rỉ, vẫn mỉm một nụ cười vô nghĩa và mất trí.
Ngài biết rằng cũng vào lúc này đoàn vệ tống đang dẫn ba tên lĩnh án tử hình bị trói chặt đi xuống bậc thềm đá ở hai bên bệ đài để dẫn chúng ra con đường chạy về phía Tây đến Núi Trọc. Vừa bước xuống khỏi bệ đài ra phía sau, Pilat liền mở to mắt, vì ngài biết rằng giờ đây ngài đã được an toàn „ngài không thể nào còn trông thấy ba tên tội phạm kia nữa.
Hòa vào tiếng ồn ào đã bắt đầu lắng xuống của đám đông, giờ lại vang lên rất rõ những tiếng rao lanh lảnh của bọn mõ tòa đang lặp lại bằng tiếng Aramei và tiếng Hy Lạp tất cả những gì quan tổng trấn vừa mới tuyên cáo trên bệ đài. Thêm vào đó, tai ngài còn nghe vẳng đến tiếng vó ngựa phi rầm rập đang đến gần và tiếng kèn đồng nổi lên từng hồi ngắn gọn và vui vẻ. Ðáp lại những âm thanh đó là tiếng huýt gió chói tai của đám trẻ con ngồi trên các mái nhà của dãy phố chạy từ chợ ra trường đua ngựa và những tiếng hét “Tránh ra!”.
Một người lính, cầm thẻ hiệu trong tay đứng một mình trên khoảng trống của quảng trường, lo lắng giơ tấm thẻ lên vẫy vẫy, và lúc đó quan tổng trấn, legat chỉ huy legio, tên thư ký và đoàn vệ tống mới dừng lại.
Một ala kỵ binh phi nước kiệu mỗi lúc một nhanh hơn, thúc ngựa phóng như bay ra quảng trường, cắt chéo góc, vòng tránh qua đám đông dân chúng, rồi theo lối ngõ hẹp dưới bức tường đá phủ đầy những giàn nho, chạy theo con đường ngắn nhất thẳng đến Núi Trọc.
Viên chỉ huy ala kỵ binh, người Siri, vóc dáng bé nhỏ như một cậu thiếu niên và da đen như người lai, khi phi nước kiệu ngang qua chỗ Pilat đứng, hét lên lanh lảnh một câu gì đó và rút thanh kiếm ra khỏi vỏ. Con ngựa ô dữ tợn ướt đẫm mồ hôi nhảy lồng lên quay ngang sang bên. Tra mạnh thanh kiếm vào vỏ, viên chỉ huy quất một roi lên cổ ngựa, bắt nó quay về hướng cũ và phóng nước đại vào lối ngõ hẹp. Theo sau là đoàn kỵ binh phi hàng ba trong lớp bụi mù mịt, những mũi giáo nhẹ bằng tre dập dờn, những khuôn mặt trông có vẻ càng đen thẫm hơn dưới lớp khăn quấn đầu rìu trắng toát với bộ răng lấp lánh nhe ra vui vẻ lần lượt diễu qua trước mặt quan tổng trấn.
Cuốn bụi bốc lên tận trời, ala kỵ binh xông vào lối ngõ nhỏ, và tên lính cuối cùng với chiếc kèn đồng sáng loáng dưới ánh mặt trời đeo sau lưng đã phóng qua trước mặt quan tổng trấn Pilat.
Ðưa bàn tay lên che bụi và cáu kỉnh nhăn mặt, Pilat bước đi tiếp, về phía cổng khu vườn của cung điện; theo sau ngài là legat, tên thư ký và đoàn vệ tống.
Lúc đó là vào khoảng mười giờ sáng.
[1]Tháng Nisan: khoảng cuối tháng Ba, đầu tháng Tư Dương lịch, tháng có lễ Vượt Qua.
[2]Quan tổng trấn: dịch chữ Latinh Procurator „viên quan dưới thời Đế quốc La Mã thay mặt Hoàng Đế (Caesar) cai trị một xứ lớn. Trong lần in (bản tiếng Việt) trước, chức này được dịch là quan toàn quyền, nay xin sửa lại. Ponti Pilat (không rõ năm sinh và năm mất): quan tổng trấn của La Mã ở Giudea từ năm 26 đến năm 36 sau Công nguyên, khét tiếng tàn bạo. Theo truyền thuyết Thiên Chúa giáo, chính Ponti Pilat đã ra lệnh hành hình Giesu. Nhân vật này được nhắc đến nhiều trong văn học thế giới. Xem thêm các sách Phúc Âm tiểu thuyết Và hòn đá ấy đã trở thành Đấng Cứu Thế của S. Otero... Tên Pilat có lẽ có gốc từ Latinh pilom „ngọn giáo.
[3]Herod Đại Đế (74-4 trước Công nguyên): vua Giudea, người chiếm được ngai vàng nhờ sự trợ giúp của quân La Mã. Theo truyền thuyết của đạo Thiên Chúa, ông ta được ghi là đã tàn sát trẻ con khi có tin về sự ra đời của Chúa Giesu, ông ta cũng là người đã xây dựng nhiều cung điện, đền đài ở Jerusalem. Giudea là một lãnh thổ ở phía Nam Palestin, trước kia đã từng là vương quốc độc lập, từ năm 6 là một tỉnh của La Mã. Trung tâm là thành Jerusalem.
[4]Sau đây là các đơn vị chính trong quân đội La Mã (theo phiên âm Latinh): legio „đơn vị tổ chức chiến thuật chính của quân đội La Mã, chia ra thành mười kogort. Một kogort gồm từ ba trăm sáu mươi đến sáu trăm lính, chia thành ba manipulut. Một manipulut chia làm hai kenturia. Một kenturia lúc đầu gồm một trăm người (một bách), sau có thay đổi. Chỉ huy kenturia là kenturion, còn cơ thể dịch là bách trưởng.
[5]Tác giả cố ý gọi trệch tên thành phố Jerusalem, thủ phủ xứ Giudea, theo một cách phiên âm khác ra tiếng Nga.
[6]Hemikrania: chứng đau nửa đầu.
[7]Giấy da cừu: thời bấy giờ chưa có giấy viết như ngày nay, phải dùng da cừu làm giấy, cũng như ở Trung Quốc xưa dùng thẻ tre.
[8]Galile: trước là một tỉnh ở Bắc Palestin, theo Phúc Âm là nơi giảng đạo chính của Giesu Christ.
[9]Tiểu vương: ở đây chỉ Herod Antipa, con Herod Đại Đế, giữ chức tetrarch, tiếng Hi Lạp nghĩa là “người cai trị một phần tư xứ” (thời đó Palestin bị chia làm bốn phần nhỏ).
[10]Hội đồng thượng thẩm: dịch từ chữ “Sinedron”, tiếng Hi Lạp có nghĩa là Hội đồng, Tòa án tối cao, cơ quan chính trị và luật pháp cao nhất ở Giudea hoạt động dưới sự kiểm soát của quan tổng trấn La Mã.
[11]Tiếng Aramei: ngôn ngữ chính của người Palestin thời đó.
[12]Đền Thờ: ở đây là ngôi đền chính của đạo Do Thái ở Jerusalem, lần đầu tiên do vua Solomon xây, sau nhiều lần bị phá hủy và được Herod Đại Đế xây lại.
[13]Crưsoboi: tiếng Nga có nghĩa là người đánh chuột, săn chuột.
[14]Ighemon: tiếng Hy Lạp có nghĩa là người đứng đầu, thủ lĩnh (như đại vương, đại nhân...).
[15]Iesua Ha-Notxri: một cách phiên âm khác của tên Giesu. Iesua trong tiếng Aramei có nghĩa là Đức Chúa „Sự cứu vớt; Ha-Notxri có nghĩa là “quê ở Nazaret”. Nazaret là thành phố quê của Giesu.
[16]Levi Matvei: theo truyền thuyết, là một trong những môn đồ của Giesu Christ, tác giả của sách Phúc âm của thánh Matvei (hay Mathêu).
[17]Viphaghia: một làng nhỏ ở Palestin, hiện không còn dấu tích.
[18]Mặt trời Iersalaim buổi sớm nắng gắt: lưu ý tính biểu tượng của mặt trời và mặt trăng trong tiểu thuyết của Bulgakov. Có nhà nghiên cứu đã thống kê trong cuốn tiểu thuyết của Nghệ Nhân (về Iesua và Ponti Pilat), mặt trời được nhắc đến 26 lần khi diễn ra bi kịch (cuộc hỏi cung, hành hình...), mặt trăng được nhắc đến 13 lần khi bi kịch đã kết thúc. Trong phần nói về Nghệ Nhân, mặt trăng được nói đến 68 lần, còn mặt trời chỉ 18 lần (chủ yếu liên quan tới các sự kiện thần bí).
[19]Chân lý là cái gì: trong tiếng Nga, từ истина có thể dịch là “chân lý” hoặc “sự thật”, hai từ này trong tiếng Việt có những trường hợp đồng nghĩa hoàn toàn, nhưng cũng có khi mang các sắc thái nghĩa khác nhau (xin lưu ý đến điều này khi đọc đoạn đối thoại giữa Pilat và Iesua). Đây chính là câu Pilat hỏi Giesu được ghi lại trong Tân Ước (Sách Phúc âm của thánh Joan, 18, 28).
[20]Núi Eleon: ngọn núi nằm ở phía Đông thành Jerusalem, thường được nhắc tới trong Tân Ước. Theo truyền thuyết, chính trên ngọn núi đó Giesu Christ hiển thánh sau khi bị hành hình trên cây thập giá.
[21] ... Thầy thuốc chứ: lưu ý liên tưởng: theo Tân Ước, Giesu có phép màu chữa bệnh và tiên tri.
[22]Treo lưỡi: ở đây tác giả chơi chữ. Nghĩa thành ngữ tiếng Nga “lưỡi được treo rất khá” có nghĩa là có tài ăn nói, hùng biện.
[23]Cổng Suz: cửa thành ở bức tường phía Đông, đối diện với núi Eleon (còn gọi là Cổng Vàng). Theo Tân Ước, Chúa Christ cưỡi lừa vào thành Jerusalem qua cổng Suz và được dân chúng reo hò chào đón.
[24]Turma kỵ binh: một bộ phận của eskadron trong quân đội La Mã. Dưới thời đế chế, kỵ binh tách ra khỏi thành phần của legio và chủ yếu gồm những người không phải dân La Mã. Một turma bằng 1/10 ala. Một ala lúc đầu gồm 300 kỵ sĩ, sau lên đến 500, 1000 người.
[25]Idistaviso: (tiếng Latinh nghĩa là Trinh Nữ): thung lũng, nơi diễn ra trận đánh giữa quân đội La Mã với người German ở hữu ngạn sông Veser vào năm 16. German: một chủng người Ấn „Âu.
[26]Quan legat: thời cổ từ legat có 2 nghĩa: a) quan toàn quyền ở địa phương (thí dụ quan tổng trấn xứ Giudea trực thuộc legat Siri); b) chức chỉ huy, đội trưởng.
[27]Kesaria St'ratonova: thành phố ven biển ở phía Tây Bắc thành Jerusalem, nơi đóng dinh của các quan tổng trấn La Mã ở Giudea.
[28]Hoàng Đế: ở đây dịch chữ Kesar (Sezar, Caesar) vốn là họ của Juli Caeser, về sau dùng để chỉ các hoàng đế La Mã nói chung. Đoạn này nói về bạo chúa Klavdi Neron Tiberi (năm 42 trước C.N „37), từ năm 26 dời đến ở đảo Kapreia trong vịnh Neapolitan. Những năm cuối đời, bị bệnh tật hành hạ, Tiberi trở nên tàn bạo, dùng “luật trừng trị tội phạm thượng” tàn sát rất nhiều người.
[29]Giuda ở Kiriaph: theo Tân Ước, Giuda là một trong mười hai tông đồ của Chúa Giesu, đã phản Chúa để lấy ba mươi đồng bạc.
[30]Hạ Thành: tức phần Đông Nam của Jerusalem, ngăn cách với Thượng Thành bởi một bức tường.
[31]... thắp đèn lên: theo quy định thời đó, đèn được thắp lên để những kẻ làm chứng ẩn kín có thể nhìn rõ mặt người phạm tội.
[32]Sebasti: một trung tâm thương mại ở Tiểu Á.
[33]Núi Trọc: tức Golgotha (tiếng Do Thái nghĩa là sọ dừa). Theo Kinh Thánh, Giesu bị hành hình ở núi này.
[34]Joseph Kaipha: đại tư tế xứ Giudea, nhân vật lịch sử, được nhắc đến trong Tân Ước, cuồng tín, gian giảo, kỳ thị tôn giáo.
[35]Đại lễ Vượt Qua: hội lễ mùa xuân của đạo Do Thái và đạo Thiên Chúa. Trong đạo Do Thái, lễ Vượt Qua được tổ chức để kỷ niệm ngày “đưa” dân Do Thái ra khỏi Ai Cập và chờ đợi Đấng Cứu Thế xuất hiện. Trong đạo Thiên Chúa, ngày hội này gọi là lễ Phục Sinh và gắn liền với huyền thoại về việc Chúa sống lại. Ngày lễ được tổ chức vào chủ nhật đầu tiên sau ngày có đêm và ngày dài bằng nhau và ngày rằm (tiến hành vào thời kỳ từ 22 tháng Ba đến 25 tháng Tư theo lịch cũ).
[36]Theo truyền thuyết, về sau Pilat chết đuối. Đây là một cảnh thần bí, Pilat nhìn thấy trước cái chết của mình.
[37]Antiokhia: thành phố ở Oronta thủ phủ của Siri, nơi đóng dinh của quan toàn quyền La Mã ở địa phương.
[38]Hồ Solomon: mấy chiếc hồ chứa nước cách Jerusalem chừng 25 km, người La Mã dự định dẫn nước từ hồ này về cung cấp cho thành phố Jerusalem.
[39]Legio Phulminato: (tiếng Latinh): legio Tia Chớp.
[40]Tribunus (tiếng Latinh): tên chỉ các chức chỉ huy ở La Mã cổ đại, ở đây là chỉ huy kogort.
[41]Itureia: một vùng núi ở phía Bắc Palestin.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
huong duong (20-08-2010)