View Single Post
  #9  
Cũ 07-12-2009, 05:46
vhnga vhnga is offline
Bánh mì đen - Черный хлеб
 
Tham gia: Jun 2009
Bài viết: 76
Cảm ơn: 51
Được cảm ơn 51 lần trong 26 bài đăng
Default

„Thưa ighemon, ngài nên thả tôi ra“, người bị bắt bất chợt cất tiếng cầu xin, và giọng của anh ta trở nên lo lắng, «tôi thấy là người ta muốn giết tôi.»
Khuôn mặt Pilat méo đi vì những cơn co giật, ngài hướng cặp mắt nẩy lửa, lòng trắng vằn những mạch máu đỏ, về phía Iesua và nói:
„Nhà ngươi, đồ bất hạnh, cho rằng quan tổng trấn La Mã sẽ tha cho kẻ nói những điều mà nhà ngươi đã nói ư? Ôi, hỡi các thần linh! Hay là nhà ngươi nghĩ rằng ta sẵn sàng thay chỗ cho nhà ngươi? Ta không chia xẻ những ý nghĩ của nhà ngươi đâu! Và hãy nghe ta nói: nếu từ giây phút này nhà ngươi còn thốt lên dù chỉ một lời, bắt chuyện với ai đó, thì hãy coi chừng ta! Ta nhắc lại: hãy coi chừng!»
„Thưa ighemon...»
„Câm miệng!„ Pilat hét lên và đưa ánh mắt điên dại nhìn theo con chim én lại vừa chấp chới bay lên ban công.
„Quân bay đâu?„ Pilat gọi lớn.
Khi tên thư ký và đội vệ tống quay trở lại chỗ của mình, Pilat tuyên bố rằng ngài duyệt y bản án mà phiên họp Hội đồng thượng thẩm đã thông qua „tử hình tên tội phạm Iesua Ha-Notxri.» Tên thư ký chép lại những lời của Pilat.
Một phút sau, Mark Crưsoboi đã đứng trước mặt quan tổng trấn. Pilat ra lệnh cho anh ta giao tội phạm cho viên chỉ huy đội đặc vụ, đồng thời truyền lại mệnh lệnh của quan tổng trấn cho giam Iesua Ha-Notxri tách khỏi những tội nhân khác, cấm những người trong đội đặc vụ trao đổi bất cứ chuyện gì hoặc trả lời bất cứ câu hỏi nào của Iesua, nếu trái lệnh sẽ bị trừng phạt nặng nề.
Theo hiệu lệnh của Mark, đội vệ tống quây kín xung quanh Iesua và dẫn anh ta xuống ban công.
Rồi sau đó trước mặt quan tổng trấn xuất hiện một người đàn ông thân hình cân đối, đẹp đẽ, râu màu vàng sáng, với những hình đầu sư tử lấp lánh trên ngực, những chiếc lông chim ưng gắn trên đỉnh mũ trụ, những tấm vàng dát trên đai đeo kiếm, đôi giày đế ba lớp quấn dây lên tận đầu gối, áo choàng đỏ thắm vắt ngang vai trái. Ðó là legat chỉ huy trưởng legio. Quan tổng trấn hỏi legat là kogort những người Sebasti [32] hiện nay đang ở đâu. Legat thông báo rằng họ đang vây quanh bãi trống trước trường đua ngựa, nơi sẽ tuyên cáo cho dân chúng biết về bản án đối với những tên tội phạm.
Quan tổng trấn liền ra lệnh cho legat điều từ kogort La Mã ra hai kenturia do Crưsoboi chỉ huy sẽ phải hộ tống những tội nhân và đoàn xe chở hình cụ cùng đao phủ lên Núi Trọc [33] , và khi đến nơi thì dàn thành vòng vây ở phía trên núi. Một kenturia khác ngay bây giờ phải đến Núi Trọc và lập tức phong tỏa toàn bộ khu vục. Cũng với mục đích đó, tức là để bảo vệ Núi Trọc, quan tổng trấn đề nghị legat phái thêm kỵ binh „một ala Siri» đến giúp sức.
Khi legat đã rời khỏi ban công, quan tổng trấn ra lệnh cho tên thư ký mời người đứng đầu Hội đồng thượng thẩm, hai thành viên của Hội đồng và chỉ huy đội cấm vệ của Ðền Thờ Iersalaim đến cung điện, đồng thời nói thêm rằng phải bố trí sao cho trước khi hội kiến với tất cả những người đó, ngài có thể nói chuyện tay đôi trước với người đứng đầu Hội đồng thượng thẩm.
Những mệnh lệnh của quan tổng trấn được thi hành nhanh chóng và chính xác; và khi mặt trời, trong những ngày đó thiêu đốt Iersalaim gay gắt khác thường, còn chưa kịp lên đến thiên đỉnh, thì trên hiên thượng của khu vườn cạnh hai con sư tử trắng bằng cẩm thạch đứng cạnh cầu thang, quan tổng trấn đã gặp người đứng đầu Hội đồng thượng thẩm, đại tư tế xứ Giudea Jozeph Kaipha [34] .
Trong vườn rất im ắng. Nhưng vừa rời khỏi hàng cột đi ra khoảng sân thượng lóa nắng của khu vườn với những cây cọ đứng trên những chân voi khổng lồ, từ đây quan tổng trấn trông rõ toàn bộ thành phố Iersalaim mà ngài căm ghét trải rộng với những cây cầu treo, pháo đài, và „cái chủ yếu nhất „một khối đá cẩm thạch không thể nào mô tả nổi với chiếc vảy rồng bằng vàng thay cho mái „Ðền Thờ Iersalaim“, thì bằng đôi tai tinh tường của mình, quan tổng trấn nghe thấy ở phía dưới xa, nơi bức tường đá ngăn cách dãy hiên dưới của khu vườn cung điện với quảng trường thành phố, tiếng ì ầm trầm trầm thỉnh thoảng xen lẫn những âm thanh khẽ khàng yếu ớt „không hẳn là tiếng kêu, mà cũng không hẳn là tiếng rên.
Quan tổng trấn hiểu rằng ở đó, trên quảng trường, đã tập trung lại một đám đông rất lớn những người dân Iersalaim bị kích động bởi các vụ lộn xộn xảy ra trong thời gian gần đây, và đám đông này đang nóng lòng đợi nghe lời tuyên cáo bản án, còn những tiếng kêu kia là của những người bán nước rong đang chạy đi chạy lại khắp nơi.
Quan tổng trấn bắt đầu bằng việc mời viên đại tư tế ghé vào ban công để tránh cái nóng dữ dội, nhưng Kaipha xin lỗi một cách lịch thiệp, và giải thích rằng không thể làm như thế được vào ngày hôm trước của tuần đại lễ Vượt Qua [35] . Pilat đội chiếc mũ trùm lên mái đầu đã chớm hói của mình và bắt đầu câu chuyện. Cuộc nói chuyện này diễn ra bằng tiếng Hy Lạp.
Pilat nói rằng ngài đã xem xét vụ án Iesua Ha-Notxri và đã duyệt y bản án tử hình.
Như vậy, trong cuộc hành hình sắp phải diễn ra hôm nay sẽ có ba tên kẻ cướp bị xử treo: Dismas, Hestas, Var-ravvan, và ngoài ra, cả tên Iesua Ha-Notxri này nữa. Hai tên đầu mưu toan xúi giục dân chúng chống lại Hoàng Ðế La Mã, bị binh lính La Mã vây đánh bắt được, là thuộc quyền quan tổng trấn, và như thế có nghĩa ở đây sẽ không phải bàn đến. Còn hai tên sau, Var-ravvan và Ha-Notxri, bị chính quyền bản xứ bắt và Hội đồng thượng thẩm xử. Theo luật pháp và tục lệ, một trong hai tên này sẽ được ân xá nhân dịp đại lễ Vượt Qua đến đúng vào ngày hôm nay.
Vì vậy, quan tổng trấn muốn biết là trong số hai tội nhân, Hội đồng thượng thẩm định tha tên nào: Var-ravvan hay Ha-Notxri? Kaipha nghiêng đầu tỏ ý đã hiểu rõ câu hỏi và đáp:
„Hội đồng thượng thẩm xin tha cho tên Var-ravvan.“
Quan tổng trấn biết trước rất rõ rằng viên đại tư tế sẽ trả lời đúng như thế, nhưng ngài lại muốn tỏ ra rằng câu trả lời như vậy làm ngài rất ngạc nhiên.
Pilat đã làm điều đó một cách vô cùng khéo léo. Cặp lông mày trên khuôn mặt ngạo mạn nhướn lên, quan tổng trấn nhìn thẳng vào mặt viên đại tư tế với vẻ kinh ngạc:
„Thú thật là ta sửng sốt trước câu trả lời như vậy! „Quan tổng trấn nhẹ nhàng cất tiếng. „Ta e rằng ở đây có sự nhầm lẫn chăng?“
Pilat nói rõ ý kiến của mình. Chính quyền La Mã không hề can thiệp chút nào vào quyền lực của chính quyền tăng lữ bản xứ, điều đó ngài đại tư tế phải biết rất rõ, nhưng trong trường hợp này rõ ràng là có sai lầm. Và chính quyền La Mã, tất nhiên, quan tâm đến việc sửa chữa sai lầm đó.
Quả vậy, các tội của Var-ravvan và Ha-Notxri không thể so sánh với nhau về mức độ nặng nhẹ. Nếu như tên thứ hai, rõ ràng là một kẻ điên, có tội đã nói những lời vô nghĩa làm rối loạn dân chúng ở Iersalaim và một vài chỗ khác, thì tên thứ nhất phạm tội nặng hơn nhiều. Hắn không chỉ tung ra những lời trực tiếp xúi giục nổi loạn, mà còn giết chết binh sĩ khi hắn bị vây bắt. Tên Var-ravvan nguy hiểm hơn Ha-Notxri.
Vì tất cả những điều đó, quan tổng trấn đề nghị ngài đại tư tế xét lại quyết định và thả tên ít nguy hiểm hơn trong số hai tên bị kết án, mà tên đó, hoàn toàn không có gì phải nghi ngờ, là Ha-Notxri.
„Vậy thì?...”
Kaipha nhìn thẳng vào mắt Pilat và nói bằng giọng khe khẽ nhưng cứng rắn, rằng Hội đồng thượng thẩm đã xem xét tỉ mỉ vụ án và lần thứ hai thông báo rằng vẫn dự định tha tên Var-ravvan.
„Sao? Thậm chí cả sau khi ta đã có ý kiến như vậy? Cái ý kiến của người thay mặt chính quyền La Mã? Ngài đại tư tế, hãy nhắc lại lần thứ ba.”
„Và lần thứ ba chúng tôi thông báo là chúng tôi xin thả tên Var-ravvan.„ Kaipha nói khẽ.
Tất cả thế là hết, và không còn gì để nói thêm nữa. Ha-Notxri đã đi khỏi vĩnh viễn, và không còn ai để chữa những cơn đau đầu dữ dội, khủng khiếp của quan tổng trấn; không còn cách nào để thoát khỏi chúng, ngoài cái chết
Nhưng không phải ý nghĩ đó bây giờ làm Pilat sửng sốt. Một nỗi buồn khó hiểu, mà lúc nãy đã xuất hiện trên ban công, chợt bao trùm lấy toàn bộ tâm hồn ngài. Ngài lập tức cố tìm cách giải thích nó, và lời giải thích thật lạ lùng: quan tổng trấn mơ hồ cảm thấy rằng có một cái gì đó ngài chưa nói hết với người bị kết án, hay cũng có thể, còn chưa nghe hết một điều gì đấy.
Pilat xua đuổi ý nghĩ đó đi, và nó vụt bay mất trong khoảnh khắc, cũng như lúc đến. Nó đã bay mất, nhưng nỗi buồn vẫn còn lại không được giải thích, bởi vì nó cũng không thể được giải thích bởi một ý nghĩ khác, rất ngắn, vụt lóe lên như tia chớp, rồi lại tắt ngay: “Bất tử... Sự bất tử đã đến...” Sự bất tử của ai? Ðiều này quan tổng trấn không hiểu nổi, nhưng ý nghĩ về sự bất tử bí hiểm đó làm ngài chợt cảm thấy lạnh người đi dưới làn ánh nắng gay gắt.
„Thôi được“, Pilat nói, “mọi việc sẽ y như thế.”
Nói đến đấy quan tổng trấn đưa mắt nhìn quanh, ánh mắt trùm lên cái thế giới ngài nhìn thấy được, và ngài ngạc nhiên trước sự thay đổi vừa diễn ra. Ðã biến mất bụi hồng nặng trĩu hoa, đã biến mất những cây trắc bá diệp mọc bao quanh hàng hiên thượng, đã biến mất cả cây lựu, cả bức tượng trắng trong khu vườn, cả khu vườn xanh rờn cây lá. Thay vào đó là một khối đậm đặc có màu đỏ rực trôi bồng bềnh, trong đó những chùm tảo đang chuyển động đi đâu đấy và cùng với chúng là chính Pilat [36] . Giờ đây ngài đang bị một cơn giận dữ khủng khiếp nhất „cơn giận dữ của sự bất lực„ bóp nghẹt, thiêu đốt tâm can mà mang đi.
„Khó chịu quá.„ Pilat thốt lên. „Ta khó chịu quá!”
Bàn tay ẩm ướt và lạnh ngắt của Pilat giật mạnh chiếc khóa trên cổ tấm áo choàng, và nó rơi xuống cát.
„Hôm nay trời oi thật, ở đâu đó đang có cơn giông“, Kaipha đáp, không rời mắt khỏi khuôn mặt đỏ bừng của quan tổng trấn và thấy trước tất cả những điều khốn khổ sẽ còn đến. “Ôi, năm nay cái tháng Nisan sao mà kinh khủng thế!”
„Không phải“, Pilat nói“, đây không phải là do trời oi nực đâu, mà ta khó chịu với nhà ngươi đấy, Kaipha ạ“, nheo cặp mắt lại thành một khe hẹp, Pilat cười nhạt rồi nói thêm: „Coi chừng, hãy giữ lấy mình, hỡi ngài đại tư tế!”
Cặp mắt tối sẫm của đại tư tế chợt lóe lên, và không hề kém quan tổng trấn lúc nãy một chút nào, ông ta để lộ ra trên khuôn mặt mình một vẻ kinh ngạc.
„Tôi vừa nghe thấy cái gì đây, thưa quan trấn?„ Kaipha kiêu hãnh và bình thản nói. „Ngài đe dọa tôi sau cái bản án do chính ngài duyệt y ư? Ðiều đó là có thể được sao? Chúng tôi đã quen với việc quan tổng trấn La Mã cân nhắc từng lời trước khi nói ra một điều gì đấy. Thưa ighemon, không có ai nghe thấy chúng ta đấy chứ ạ?”
Pilat nhìn ngài đại tư tế bằng cặp mắt chết lặng và nhe răng tạo ra một nụ cười.
„Ngươi nói gì thế, đại tư tế? Ai có thể nghe thấy chúng ta ở đây? Chẳng lẽ ta lại giống cái gã lang thang trẻ tuổi hôm nay sẽ bị treo cổ sao? Ta là con nít ư, Kaipha? Ta biết ta nói gì và nói ở đâu chứ. Cả khu vườn đã được canh phòng, cung điện cũng được canh phòng đến không còn một khe hở nào để chuột nhắt có thể lọt qua! Mà không chỉ chuột, thậm chí đến cả cái tên, cái tên... quê ở Kiriaph ấy, cũng không qua được! Mà này, đại tư tế, ngươi có biết hắn không? Ðúng... nếu một kẻ như hắn lọt được vào đây, hắn sẽ phải đau khổ mà tiếc cho mình, điều này thì ngươi tin ta chứ? Vậy thì nhà ngươi, đại tư tế, hãy biết rằng từ nay nhà ngươi sẽ không được yên ổn mà sống đâu. Cả ngươi, cả dân chúng của nhà ngươi“, và Pilat đưa tay chỉ về phía xa bên tay phải, nơi ngôi đền đang bốc lửa trên đồi cao, «đấy là ta nói với ngươi, ta Ponti Pilat, kỵ sĩ Ngọn Giáo Vàng.»
„Tôi biết, tôi biết“, Kaipha với bộ râu đen rậm đáp lời không hề sợ hãi, và cặp mắt của ông ta long lên. Ông ta giơ một tay lên trời, nói tiếp: „Dân chúng Giudea biết rằng ngài căm thù họ bằng một lòng căm thù tàn bạo và ngài sẽ mang lại cho họ nhiều tai họa đau khổ, nhưng ngài sẽ không giết chết hết được họ đâu. Ðức Chúa Trời sẽ che chở họ. Ðức Hoàng Ðế toàn năng sẽ nghe thấy chúng tôi, sẽ che chở chúng tôi khỏi bàn tay của Pilat nguy hại!»
„Ồ, không đâu!„ Pilat thốt lên, và cùng với mỗi lời nói ra, ngài càng cảm thấy nhẹ nhõm hơn: không cần phải giả vờ, không cần phải dè dặt chọn lời nữa. „Nhà ngươi đã kêu ca với Hoàng Ðế quá nhiều về ta, và bây giờ đến lượt ta, Kaipha ạ! Bây giờ ta sẽ gửi tín thư đi, mà không phải cho quan thống đốc ở Antiokhia [37] và cũng không phải về La Mã, mà thẳng tới Kapreia cho chính Hoàng Ðế, trình báo rằng nhà ngươi đã che giấu những tên phiến loạn hiển nhiên ở Iersalaim khỏi cái chết như thế nào. Và lúc đó ta sẽ cho thành Iersalaim uống không phải nước hồ Solomon như ta đã muốn vì lợi ích của các ngươi [38] . Không, không phải nước! Hãy nhớ lại, ta đã vì các ngươi mà phải gỡ từ trên tường xuống các tấm khiên khắc chữ kết của Hoàng Ðế, đã điều binh khiển tướng, đã phải thân chinh, như các ngươi thấy đấy, đến tận nơi đây để xem chuyện gì đang xảy ra với các ngươi. Ðại tư tế, hãy nhớ lấy lời ta! Nhà ngươi sẽ được trông thấy ở Iersalaim không chỉ một kogort, ồ không! Ðến dưới chân thành này sẽ có cả toàn bộ legio Phulminato [39] , sẽ đến cả đoàn kỵ binh ả Rập, và lúc đó ngươi sẽ nghe thấy những tiếng kêu than khóc lóc cay đắng! Lúc đó nhà ngươi hãy nhớ tới tên Var-ravvan được cứu sống và sẽ phải hối hận vì đã bắt nhà triết học với những lời truyền giảng hòa bình phải chết!»
Khuôn mặt đại tư tế nổi lên những chấm đỏ, đôi mắt bốc lửa. Ông ta, cũng hệt như quan tổng trấn, nhe răng, mỉm cười và đáp:
„Thưa quan tổng trấn, ngài có tin vào những điều ngài vừa nói ra không đấy? Không, ngài không tin! Kẻ quyến rũ dân chúng kia không mang hòa bình đến cho chúng tôi ở Iersalaim, và ngài, thưa ngài kỵ tướng, ngài hiểu rất rõ điều đó. Ngài muốn thả hắn ra là để hắn xúi giục dân chúng, lăng nhục đức tin, và đẩy dân chúng vào dưới lưỡi gươm La Mã! Nhưng tôi, đại tư tế của nước Giudea, chừng nào còn sống tôi sẽ không để cho đức tin bị lăng nhục và sẽ bảo vệ dân chúng! Ngài nghe thấy không, hỡi Pilat?„ Nói đến đây, Kaipha với vẻ đe dọa giơ tay lên trời: „Hãy lắng nghe, hỡi quan tổng trấn!»
Kaipha dừng lời, và quan tổng trấn lại nghe như có tiếng sóng biển ì ầm lăn đến tận chân tường của khu vườn Herod Ðại Ðế. Tiếng động đó từ phía dưới nổi lên dội vào chân và vào mặt quan tổng trấn. Còn sau lưng, phía sau hai cánh hiên của cung điện, nghe vẳng đến những tiếng kèn hiệu bồn chồn, tiếng rầm rập của hàng trăm bước chân, tiếng thép khua loảng xoảng, và quan tổng trấn hiểu rằng theo lệnh của ngài đoàn bộ binh La Mã đã bắt đầu cho bọn phiến loạn và bọn trộm cướp diễu hành trước lúc chết.
„Ngài có nghe thấy không, thưa ngài tổng trấn?„đại tư tế khẽ nhắc lại. „Chẳng lẽ ngài lại sẽ còn nói với tôi rằng“, đến đây đại tư tế giơ cả hai tay lên trời, và chiếc mũ trùm màu thẫm tuột xuống khỏi đầu Kaipha, «tất cả những cái này là do một tên kẻ cướp thảm hại Var-ravvan gây nên sao?»
Quan tổng trấn đưa mu bàn tay lau mảng trán lạnh và ẩm ướt, nhìn xuống đất, rồi lại nheo mắt nhìn lên trời. Thấy quả cầu lửa đã gần như treo thẳng phía trên mái đầu ngài, và bóng của Kaipha co lại chỉ còn một tí ở đuôi con sư tử đá, ngài nói khẽ và thản nhiên:
„Sắp trưa rồi. Chúng ta mải nói chuyện mà việc thì còn phải làm tiếp.»
Sau khi xin lỗi viên đại tư tế bằng những câu lịch sự, Pilat mời ông ta ngồi vào chiếc ghế dài dưới bóng râm của cây mộc liên, đợi ngài gọi những người khác cần cho cuộc thương nghị ngắn gọn cuối cùng và ra thêm một mệnh lệnh cho việc chuẩn bị hành hình.
Kaipha lễ phép nghiêng mình, áp một bàn tay lên ngực trái và ở lại trong khu vườn, còn Pilat trở lên ban công. Ở đó ngài ra lệnh cho tên thư ký mời xuống vườn quan legat chỉ huy legio, quan tribunus [40] chỉ huy kogort cùng với hai thành viên của Hội đồng thượng thẩm và quan chỉ huy đội cấm vệ đang đứng chờ lệnh gọi trong ngôi đình tạ hình tròn có đài phun nước ở dãy hàng hiên dưới phía bên kia của khu vườn. Pilat còn nói thêm rằng chính ngài sẽ ra ngay bây giờ, rồi đi sâu vào phía trong cung điện.
Trong khi tên thư ký đang đi mời những người đến dự cuộc thương nghị, tại căn phòng được những tấm màn vải đen che tối quan tổng trấn đã có cuộc hội kiến với một người nào đó, khuôn mặt của người này bị chiếc mũ trùm che kín một nửa, mặc dù trong căn phòng những tia nắng mặt trời không thể quấy rầy anh ta được. Cuộc hội kiến diễn ra hết sức ngắn gọn. Quan tổng trấn nói khẽ với người nọ vài lời, sau đó anh ta đi ngay, còn Pilat theo lối hàng hiên có dãy cột tròn bước ra vườn.
Ở đó, trước mặt tất cả những ai ngài muốn gặp, quan tổng trấn trịnh trọng và lạnh lùng khẳng định rằng ngài chuẩn y bản án tử hình Iesua Ha-Notxri, và chính thức hỏi ý kiến các thành viên của Hội đồng thượng thẩm là họ muốn tha mạng sống cho ai trong số các tội phạm. Nhận được câu trả lời rằng kẻ đó là Var-ravvan, quan tổng trấn nói:
„Rất tốt“, và ngài ra lệnh cho tên thư ký ghi ngay điều đó vào biên bản; rồi nắm chặt trong bàn tay chiếc khóa móc cổ áo được tên thư ký nhặt từ cát lên, ngài trịnh trọng nói: „Bắt đầu!»
Lập tức tất cả những người có mặt rời chỗ bước xuống phía dưới theo chiếc cầu thang rộng bằng đá hoa cương giữa những bức tường hoa hồng tỏa hương ngây ngất; họ đi xuống mỗi lúc một thấp hơn đến bên bức tường của cung điện, về phía cổng dẫn ra một quảng trường lớn đầm phẳng lì, phía cuối quảng trường hiện lên những dãy cột và những bức tượng của sân vận động Ieresalaim.
Chỉ đến khi cả đoàn người đã rời khỏi khu vườn ra đến quảng trường, leo lên chiếc bệ đài bằng đá rộng lớn nổi cao trên đó, Pilat, nhìn qua cặp mi mắt nheo hẹp, mới nắm hiểu được toàn bộ tình hình. Cái khoảng không gian mà ngài vừa mới vượt qua, từ bức tường của cung điện đến bệ đài, thì trống không; còn ở phía trước mặt mình Pilat không trông thấy mặt đá quảng trường ở đâu nữa, nó đã bị đám đông dân chúng ken đặc che lấp. Ðám đông có lẽ đã tràn lên cả bệ đài, cả khoảng không gian trống sau lưng kia, nếu như không có ba hàng lính Sebasti ở bên trái và lính của kogort Itureia [41] tăng cường ở phía bên phải Pilat ngăn giữ.
Rồi Pilat leo lên bệ đài, bóp chặt một cách máy móc trong nắm tay chiếc khóa móc cổ áo giờ chẳng cần để làm gì, và nheo mắt nhìn. Quan tổng trấn nheo mắt không phải vì bị chói nắng, không phải thế! Ngài, không hiểu sao, lại không muốn nhìn thấy đám tù nhân, mà ngài biết rất rõ là ngay bây giờ sẽ được chở ra theo và đưa lên bệ đài.
Tấm áo choàng trắng lót vải đỏ tía vừa mới xuất hiện trên bệ đá cạnh biển người, lập tức một đợt sóng âm thanh đập dồn vào tai Pilat: “Ha-a-a...” Nảy sinh ra ở một nơi nào đó phía xa cạnh trường đua ngựa, đợt sóng âm bắt đầu không lớn lắm, nó rền lên như sấm, kéo dài mấy giây, rồi lắng xuống dần. “Dân chúng đã trông thấy ta“, quan tổng trấn nghĩ thầm. Ðợt sóng chưa giảm xuống đến điểm thấp nhất, thì đột nhiên nó lại dâng lên, ngả nghiêng, chao đảo, cao hơn cả đợt sóng thứ nhất. Và như bọt nước sôi lên trên đỉnh con sóng biển bạc đầu, trên đợt sóng thứ hai này cũng sôi lên những tiếng huýt gió và những tiếng rú của phụ nữ nghe rõ qua tiếng ầm ầm như sấm. “Ðó là chúng bị đưa lên bệ đài...„ Pilat nghĩ thầm, «còn tiếng rú là vì một số phụ nữ bị đè bẹp khi đám đông dồn về phía trước”.
Ngài đứng yên một lúc chờ đợi, vì biết rằng không có sức mạnh nào có thể bắt đám người kia im tiếng cho đến khi nó chưa phát tán ra ngoài hết những gì tích dồn lại bên trong nó và chưa tự mình ngừng lặng.
Và khi cái khoảnh khắc đó đã đến, quan tổng trấn vung cánh tay phải lên cao, lập tức những tiếng ồn cuối cùng tan biến.
Liền đó Pilat lấy hết sức hít vào đầy lồng ngực mình làn không khí nóng rẫy rồi hét lớn, giọng nói lạc đi của ngài lướt bay trên hàng nghìn mái đầu:
„Thừa mệnh Hoàng Ðế vĩ đại!»
Ngay lúc đó quân lính trong các kogort vung thẳng những mũi giáo lên trời và hét lên dữ dội, tiếng hét như những đợt sóng đập vào màng tai quan tổng trấn:
„Hoàng Ðế vạn tuế!»
Pilat ngửa mái đầu lên nhìn thẳng vào mặt trời. Dưới hàng mi trong mắt ngài loé lên một ánh lửa xanh, nó đốt cháy não, và những lời nói khản đặc bằng tiếng Aramei bay ra trên đám đông:
„Bốn tên tội phạm bị bắt ở Iersalaim vì tội giết người, xúi giục nổi loạn, lăng miệt pháp luật và tín ngưỡng, đã bị kết án ô nhục ‘treo cổ’! Bản án này sẽ được thực hiện ngay bây giờ ở Núi Trọc! Họ tên của bốn tên bị kết tội là Dismas, Hestas, Var-ravvan và Ha-Notxri. Bọn chúng đang ở kia!»
Pilat giơ bàn tay chỉ về bên phải, tuy không nhìn thấy một phạm nhân nào, nhưng ngài biết rằng chúng đang đứng ở đó, nơi chúng phải đứng.
Ðám đông dân chúng đáp lại bằng một đợt sóng ồn ào kéo dài có vẻ như ngạc nhiên hoặc nhẹ nhõm.
Khi tiếng ồn đã lắng xuống, Pilat nói tiếp:
„Nhưng trong số bốn tên chỉ có ba tên sẽ bị hành hình, bởi vì theo pháp luật và tục lệ, nhân ngày lễ Vượt Qua, một tên trong số những tên đã bị kết án tử hình, theo sự lựa chọn của Hội đồng thượng thẩm bản hạt và sự duyệt y của chính quyền La Mã, sẽ được đức Hoàng Ðế nhân từ ban mạng sống!»
Pilat hét to từng từ, đồng thời lắng nghe tiếng ồn ào lắng xuống dần, rồi thay vào đó là một sự im lặng hoàn toàn. Bây giờ không còn nghe vẳng đến một tiếng sột soạt hay tiếng thở mạnh nào, thậm chí có một khoảnh khắc Pilat cảm thấy như tất cả xung quanh đã vụt biến mất. Thành phố mà ngài căm ghét chết lặng, chỉ còn một mình ngài đứng đó, dưới ánh nắng mặt trời thiêu đốt, mặt hướng thẳng lên trời cao. Pilat lắng nghe sự im lặng thêm một lúc, rồi hét lớn:
„Tên của kẻ bây giờ sẽ được ân xá là... »
Ngài ngừng lại thêm một lát, chưa nói ngay họ tên kẻ được tha, kiểm tra xem tất cả những điều cần thiết đã được nói hết chưa, vì ngài biết rằng cái thành phố chết lặng kia sẽ sống lại sau khi tên của kẻ may phúc được nói ra, và tiếp theo sẽ không ai còn nghe được thêm một từ nào nữa.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
huong duong (20-08-2010)