Nhà thơ và tổng biên tập vô cùng ngơ ngác, còn giáo sư ra hiệu bảo hai người ghé lại gần, và khi họ vừa cúi xuống thì ông ta thì thào:
„Các ngài nên nhớ rằng Giesu là có thật.»
„Thưa giáo sư“, Berlioz miễn cưỡng mỉm cười, nói, «chúng tôi kính trọng những kiến thức uyên bác của ngài, nhưng về vấn đề này, chúng tôi có những quan điểm khác.»
„Chẳng cần quan điểm nào cả!„ vị giáo sư kỳ quặc đáp. „Chỉ đơn giản là Giesu đã từng tồn tại, và ngoài ra không cần gì hết.»
„Nhưng dù sao cũng cần một bằng cứ nào đó...„ Berlioz cất tiếng.
„Không cần một bằng cứ nào hết“, vị giáo sư trả lời và nói tiếp bằng giọng khe khẽ, không hiểu sao âm sắc lơ lớ của ông ta đã biến mất: „Tất cả rất đơn giản: trong tấm áo choàng màu trắng... »
Nguồn: Nguyên tác tiếng Nga MACTEP И МАРГАРИТА. In lần đầu tiên ở tạp chí Moskva, số 11 năm 1966 và số 1 năm 1967 nhưng bị cắt bỏ nhiều. Năm 1973 được in đầy đủ theo bản thảo lưu giữ ở Thư viện Quốc gia mang tên V. I. Lenin. Bản dịch tiếng Việt của Ðoàn Tử Huyến Mikhail Bulgakov, Nghệ nhân và Margarita, Nhà xuất bản Cầu Vồng và Nhà xuất bản Tác Phẩm Mới hợp tác xuất bản, Moskva 1989, với lời giới thiệu của Giáo sư Viện sĩ Thông tấn P. Nikolaev, thực hiện theo Mikhail Bulgakov, Các tiểu thuyết Bạch vệ, tiểu thuyết sân khấu, Nghệ nhân và Margarita, Nhà Xuất bản Văn học, Moskva, 1973. Lần in thứ hai trong Mikhail Bulgakov. Tuyển tập văn xuôi, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1998, bản dịch đã được dịch giả xem lại đối chiếu với nguyên bản tiếng Nga in trong M. Bulgakov, Tuyển tập tác phẩm năm tập, tập 5, nhà xuất bản Văn học, Moskva, 1990. Phần chú giải được soạn dựa nhiều vào các chú giải của G. Lesskis in trong tập nói trên. Bản in lần này theo Nghệ Nhân và Margarita trong tập M. Bulgakov, Tuyển tập văn xuôi, Nxb Văn học, 1996, có sửa chữa một số chỗ.
Chú thích
[0]Lời Đề từ lấy từ phần I tác phẩm Faust của Goethe. Nguyên văn tiếng Đức như sau: ”... wer bist du denn?/ Ein Teil von jener Kraft / die stets das Böse will und stets das Gute schafft.” Lời đề từ này thể hiện quan niệm về cái Ác như một chức năng của cái Thiện. Trong lần in đầu (của bản tiếng Việt, năm 1989), biên tập viên nhà xuất bản Cầu Vồng đã chữa “điều ích lợi” thành “điều thiện”; trong những lần in sau này người dịch xin lấy lại “điều ích lợi” vì nghĩ như thế rõ nghĩa và hợp lý hơn.
[1]Lưu ý: thời gian diễn biến của cuốn tiểu thuyết kéo dài hơn ba ngày, từ chiều thứ Tư đến đêm thứ Bảy (tháng Năm), trước ngày lễ Vượt Qua (tức lễ Phục Sinh). Hồ Pat'riarsi (Патриарх, giáo chủ): tên mới là hồ Tiền Phong (Пионерские): ngày xưa đây là Đầm Dê, về sau thành ấp của giáo chủ Philaret. Trong chi tiết này cũng đã có sự liên tưởng giữa Chúa Trời (giáo chủ) và Quỷ Sứ (Dê trong quan niệm dân gian là biểu tượng của quỷ).
[2]Berlioz: người ta tìm thấy nguyên mẫu của nhân vật này ở nhiều nhà hoạt động văn hóa tư tưởng thời đó, một nhà vô thần “bao cấp” điển hình. Ở hình tượng này cũng có nhiều mạch liên tưởng: Berlioz, giống như Giesu Christ, có 12 “sứ đồ” (12 ủy viên Ban chấp hành MASSOLIT); Berlioz là họ của nhà soạn nhạc người Pháp (1803-1869), tác giả của bản “Giao hưởng hoang tưởng” trong đó có các chương về Chúa Trời và Quỷ Sứ.
[3]MASSOLIT: viết tắt theo tiếng Nga МАССОЛИТ, có thể là Москвская ассоциаця литераторов (Hội những người làm công tác văn học Moskva).
[4]Bezdomnưi: tiếng Nga có nghĩa là kẻ không nhà; thời đó các văn nghệ sĩ hay lấy bút danh theo “tinh thần thời đại” như vậy, chẳng hạn: Bednưi (nghèo khổ), Gorki (đau khổ), Golodnưi (đói khổ), Bezưmenski (kẻ không tên) v.v... Đây cũng là hình tượng tổng hợp từ nhiều nguyên mẫu thời đó.
[5]Lipa: (tên khoa học Tilia): cây gia, cây đoạn; chúng tôi không muốn dịch nghĩa, chỉ phiên âm, như thế có âm hưởng hơn trong văn bản.
[6]Kislovodsk: một thành phố nghỉ mát và dưỡng bệnh nổi tiếng ở Nga.
[7]Giesu: trong tiếng Nga Giesu được phiên âm là Iisus, gần với âm Iesua mà Bulgakov đặt cho nhân vật của mình (ở chương sau).
[8]Philon Aleksandreus (25 hoặc 28 trước Công nguyên „khoảng 50 sau Công nguyên): nhà triết học tôn giáo Giudea cổ đại.
[9]Joseph Phlavius (khoảng 37 „sau 100): nhà sử học nổi tiếng Do Thái cổ đại.
[10]Tacitus (khoảng 58 „117): nhà sử học cổ La Mã.
[11]Oziris: con trai của thần đất Heb, anh trai và chồng của Izida, cha của Hor, tượng trưng cho lòng tốt và ánh sáng, bị hung thần Set giết chết và được Izida và Hor làm sống lại.
[12]Phammuz: thần sinh sản, chồng của nữ thần Inanna, một nửa năm sống dưới mặt đất.
[13]Phinikia: tên của đất nước cổ đại vùng Cận Đông, dọc theo bờ biển của Siri và Liban ngày nay.
[14] Mardus: vị thần tối cao của người Babilon, vị thần hộ mệnh của thành phố Babilon.
[15]Vitsliputsli: vị thần tối cao của người Astec, một dân tộc da đỏ lớn, sống ở Mehico hiện nay.
[16]Chó puđel: trong văn học Phương Tây, chó là biểu tượng cho cõi âm, thế giới âm phủ. ở đây còn có sự liên tưởng: quỷ Mephistopheleses đến gặp Faust trong hình dạng con chó puđel.
[17]Người nước ngoài: tâm lý dân chúng Moskva thời đó xem người nước ngoài là một đối tượng đặc biệt, nên tránh xa, thậm chí nguy hiểm. Điều đó thể hiện qua nhiều hành vi của các nhân vật trong tiểu thuyết, như Berlioz, Margarita, Bosoi v.v... Xin lưu ý: nhân vật người nước ngoài này được mô tả như hình ảnh của Chúa Quỷ trong văn học dân gian nhiều nước Phương Tây.
[18]Phrighia: một nước cổ đại vùng Tiểu Á. Attit: trong thần thoại của người Phrighia là thần phì nhiêu.
[19]Thầy pháp: tức là các tư tế. Theo Cựu Ước, tại thành phố Vifleem quê hương của Christ mọc lên một ngôi sao dẫn đường cho các thầy tư tế tới cái hang trong đó có Christ mới sinh. Các thầy tư tế tới đó để vái chào Christ.
[20]Năm bằng cứ: trong thần học, tồn tại một hệ thống các bằng cứ nhằm khẳng định sự tồn tại của Chúa Trời, như bằng cứ lịch sử luận, bằng cứ tâm lý luận, bằng cứ nhân chủng luận, bằng cứ vũ trụ luận, bằng cứ mục đích luận. Bằng cứ Kant đưa ra là bằng cứ luân lý (đạo đức) luận.
[21]Kant Immanuel (1742-1804): nhà triết học vĩ đại người Đức.
[22]Schiler Ph. K. (1864-1937): nhà triết học duy tâm Anh.
[23]Strauss David Phriedrich (1808 „1874): nhà thần học và triết học Đức, tác giả cuốn Đời Giesu.
[24]Solovki: hòn đảo ở Biển Trắng, vốn là địa điểm lưu đày.
[25]... hơn một trăm năm nay: câu chuyện này xảy ra vào những năm ba mươi thế kỷ XX, lúc đó I. Kant mất mới hơn một trăm năm.
[26]Sarcom: một dạng ung thư.
[27]“Nhãn hiệu chúng ta”: tên một loại thuốc lá những năm 1920.
[28]Hình tam giác: là biểu tượng phổ biến trên thế giới, nhưng mang nhiều ý nghĩa khác nhau. Chẳng hạn, hình tam giác góc nằm ở phía trên tượng trưng cho cái tốt, góc nằm ở phía dưới tượng trưng cho cái ác. Hình tam giác cũng là biểu tượng của kẻ làm chủ các linh hồn. Nó cũng là biểu tượng tam phân vũ trụ của hội Tam Điểm.
[29]Sizophrenia: bệnh tâm thần phân lập.
[30]Chữ V đúp (W)... người Đức: ở đây có sự liên tưởng: nhân vật này tên là Voland, tiếng Đức có nghĩa là “Con quỷ”. Hình tượng này trong tiểu thuyết Bulgakov dựa vào ý tưởng của Goethe qua nhân vật Mephistopheles, lấy từ truyền thuyết dân gian Đức. Theo các nhà nghiên cứu, M. Bulgakov thay chữ V (chữ cái đầu trong Voland) bằng W (V đúp) để có liên tưởng với chữ M lộn ngược (trong tiếng Nga, M là chữ cái đầu trong từ MacteP (Master) „Nghệ Nhân”).
[31]Hắc ma thuật: môn ma thuật thời Trung cổ sai khiến âm binh, ma quỷ để hành phép, khác với ma thuật trắng nhờ vào thiên binh.
[32]Gerbert Avrilac: một trong những học giả uyên thâm nhất thời kỳ Trung cổ (thế kỷ X), năm 999, được phong Giáo hoàng, lấy tên là Sinvestr II, nổi tiếng là nhà giả kim thuật, phù thủy.
[33]Ở đây tác giả chơi chữ: trong tiếng Nga, từ история vừa có nghĩa là “lịch sử” vừa có nghĩa là “câu chuyện”.
|