([1]) Käte Hamburger, Logique des genres littéraires, Éd. du Seuil, Paris, 1986. Traduit de l’allemand par Pierre Cadiot; Préface de Gérard Genette.
([2]) “réalité” trong lí thuyết văn học có lẽ nên hiểu là “thực tại” hơn là “hiện thực” vì ở ta vốn rất dễ dẫn đến cách hiểu quán tính gắn với nội dung lịch sử, xã hội. Hơn nữa, “thực tại” rộng nghĩa hơn: nó là thực tại khách quan, không quan hệ với “lí thuyết về nhận thức” (tồn tại của con người, thế giới tự nhiên, tinh thần...) như chính Käte Hamburger đã lưu ý ngay tại trang đầu tiên của công trình.
([3]) K.Hamburger, Logique des genres littéraires: “L’opposition ‘littérature et réalité’ ” - [“Sự đối diện ‘văn học và thực tại’ ”], p.29.
([4]) K.Hamburger cũng đã lường trước nguy cơ về một “chủ nghĩa hiện thực ngây thơ” (“réalisme naïf”). Nhưng ở đây, “réalisme” vẫn phải dịch là “chủ nghĩa hiện thực” vì xưa nay chúng ta đã quá quen với thuật ngữ này trong các sách giáo khoa, giáo trình, các chuyên luận, v.v. Thêm nữa, trong Từ điển Bách khoa Toàn thư Việt Nam, “Réalisme” lại có hai mục từ là: “Chủ nghĩa hiện thực” thế kỉ XIX mà ta đã quen và “Chủ nghĩa thực tại” thời Trung đại phương Tây chống lại “Chủ nghĩa duy danh” (“nominalisme”).
([5]) Những linh hồn chết: http://vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=424564&mpage=2
([6]) Les Âmes mortes: http://fr.wikisource.org/wiki/Les_%C3%82mes_mortes
([7]) Dead Souls: http://en.wikisource.org/wiki/Dead_Souls
([8]) Мёртвые души:
http://ru.wikisource.org/wiki/%D0%9C...D0%B2%D0%B0_IV
([9]) Thư của Gogol (download cùng với tác phẩm được Hoàng Thiếu Sơn dịch).
([10]) “Xe ngựa nhẹ để đi đường trường” - chú thích của Hoàng Thiếu Sơn.
([11]) Các trích dẫn tác phẩm Những linh hồn chết đều từ bản dịch của Hoàng Thiếu Sơn. Do download từ mạng nên chúng tôi không thể chú thích số trang mà chỉ ghi số Chương và Phần của tác phẩm.
([12]) K.Hamburger, Logique des genres littéraires: “Analyse du sujet d’énonciation” [“Phân tích chủ thể của phát ngôn”], p. 47.
([13]) K.Hamburger, Logique des genres littéraires: “Analyse du sujet d’énonciation” [“Phân tích chủ thể của phát ngôn”], p. 48-52.
([14]) K.Hamburger, Logique des genres littéraires: “Le prétérit épique” [“Quá khứ sử thi”], p.78.
([15]) K.Hamburger, Logique des genres littéraires: “Le prétérit épique” [“Quá khứ sử thi”], p. 82.
([16]) Nguyên văn tiếng Pháp (tôi gạch chân): “Elle fait partie d’une scène, d’une réalité fictive qui existe par elle-même et qui, en tant que fictive, est tout autant indépendante d’un sujet d’énonciation que peut l’être une réalité “vraie”. Si une réalité vraie est parce qu’elle est, une réalité fictive n’ “est” que parce qu’elle est racontée (de même une réalité dramatique n’est telle que parce qu’elle est produite par les moyens de la mise en forme dramatique)” (K.Hamburger, S.đ.d, p.126). Tôi dịch là tồn tại (être) do cách diễn đạt hơi “triết học”.
([17]) eipein (tiếng Hi Lạp) nghĩa là “nói” (động từ). Một người Pháp, chuyên gia về tiếng Hi Lạp, đã cho tôi biết, nếu phải dịch thì dịch là: “cái nói”; nhưng vì ở đây K.Hamburger đang nói về văn học tự sự viết, nên phải hiểu là “những gì được kể” và vì bà viết nguyên văn tiếng Hi Lạp trong văn bản nên cần đưa xuống chú thích để giải thích. Thực ra, bà chỉ muốn nhấn mạnh đến sự khác nhau giữa phát ngôn hư cấu trong văn học với phát ngôn có thực trong thực tại (vì cả hai đều sử dụng chất liệu là ngôn ngữ).
([18]) Nguyên văn (tôi gạch chân và in đậm chữ eipein): “On le voit: la fiction épique, la chose racontée n’est pas un objet pour la narration. La fictivité, c’est-à-dire sa non-réalité, signifie qu’elle n’existe pas indépendamment du fait de sa narration, qu’elle en est le produit. La narration est donc une fonction (la fonction narrative), productrice du récit, maniée par le narrateur comme le peintre manie couleurs et pinceaux. Autrement dit, le romancier n’est pas un sujet d’énonciation, il ne raconte pas à propos de personnes et de choses (il ne parle pas de personnes...), il raconte personnes et choses. Entre ce qui est l’objet narré et la narration, il n’y a pas un rapport relationnel en l’occurrence énonciatif, mais une liaison de type fonctionnel. On rélève ainsi la structure logique de la fiction épique, catégoriellement opposée à celle de l’énoncé de réalité. Entre l’eipein de la littérature narrative et celui de l’énoncé, il y a la même frontière qu’entre la littérature et la vérité, frontière imperméable, ce qui du même coup nous offre un critère décisif pour déterminer la place de la littérature dans le système de la langue”. K.Hamburger, Logique des genres littéraires: “La disparation du sujet d’énonciation et le problème du ‘narrateur’ ”, [“Sự biến mất của chủ thể phát ngôn và vấn đề ‘người kể chuyện’ ”], p.126.
([19]) K.Hamburger, Logique des genres littéraires: “Subjectivité et objectivité dans le récit” [“Tính chủ quan và khách quan trong truyện kể”], p.130.
([20]) Gérard Genette, Figure III, Éd. du Seuil, 1972, p. 252.
([21]) Manfred Jahn, Narratology: A Guide to the Theory of Narrative: http://www.uni-koeln.de/~ame02/pppn.htm
([22]) Nguyên văn: “In a homodiegetic narrative--, the story is told by a (homodiegetic) narrator who is present as a character in the story. The prefix 'homo-' points to the fact that the individual who acts as a narrator is also a character on the level of action. A special case of homodiegetic narration is autodiegetic narration, in which the narrator is the protagonist of his/her story”. (Những chỗ in đậm và in nghiêng đều của chính văn).
([23]) Nguyên văn: “In a heterodiegetic narrative--, the story is told by a (heterodiegetic) narrator who is not present as a character in the story. The prefix 'hetero-' alludes to the 'different nature' of the narrator's world as compared to the world of the action”. (Những chỗ in đậm và in nghiêng đều của chính văn).
([24]) Gérard Genette, Figure III, Éd. du Seuil, 1972, p.91-92.
([25]) Gérard Genette, Figure III, Éd. du Seuil, 1972, p.91-92.
([26]) Chức năng phatique của ngôn ngữ nhắm tới việc duy trì mối giao tiếp giữa người nói với người nghe (nhất là việc thẩm định, xác minh xem thông báo hoặc tin nhắn có thông suốt không). Ví dụ:
- Alô? (thiết lập mối giao tiếp)
- Xin bạn hãy chờ một chút... (duy trì mối giao tiếp)
([27]) Le conatif là “một dạng thuần túy ngôn ngữ biểu lộ một ứng lực”.[ ] Jakobson nói về “fonction conative” của ngôn ngữ học ở dạng thức mang tính mệnh lệnh, khiến cho tác động lên người nghe hoặc xác định cách ứng xử của anh ta.
([28]) Gérard Genette, Figure III, Éd. du Seuil, 1972, p.261-263.
([29]) Đây là một “hình thái văn bản về tác giả” (“figure textuelle de l'auteur”).
([30]) Nhân đây tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến sự giúp đỡ rất quý báu của Thạc sĩ Nguyễn Thu Thủy - một người giảng dạy lâu năm về văn học Nga của Khoa Văn học, ĐHKHXH & NV, HN - đã chỉ dẫn giúp tôi các cách biến đổi đuôi theo giống, số, cách của hai từ trên trong tiếng Nga. Hai từ “автор” và “читатель” trong bảng so sánh để nguyên thể chỉ có tính chất đại diện.
|