Tôi thấy những tinh thể rất đẹp, và cũng 'hơi' liên quan đến Nga nên post lên.
(khoáng chất) Topaz (khoáng vật có màu vàng trong suốt):
Topaz xanh, kích thước khoảng 15 cm:
(khoáng chất) Tuamalin (tinh thể có tính dị hướng), lẫn trong thạch anh, kích thước 20 cm:
Thạch anh 'hoa hồng':
Legrandite (Mexico), lấy theo tên kỹ sư mỏ người Bỉ LeGrand

(Ảnh Jason B. Smith)
Scorodite (Mexico), một dạng Asenat Hydrat:
Bole (đất sét chứa kim loại):
(khoáng chất) Ametit, thạch anh tím, kích thước 20 cm:
Xmitxonit Xanh (Namibia), kích thước 8 cm:
Quặng lam đồng Azurite (Namibia), kích thước 10 cm. Không biết có liên quan tới từ azul (màu xanh da trời) trong tiếng Tây Ban Nha:
Jeremejevite (Namibia), lấy theo tên kỹ sư, nhà khoáng học Pavel Vladimirovich Eremeev:

(Ảnh Joseph A. Freilich)
Manganit (Đức), kích thước 10 cm:
Ngọc xanh biển aquamarin, Pakistan:
Hydroxylherderite (ảnh trên ở Brazil, ảnh dưới ở Pakistan):

(Ảnh Paul Bongaerts)
Rođocrozit (Rhodochrosite) (Peru):
Fluorite (Nga, Dalnegorsk):
Sperrylite (Nga, Norilsk)

(Ảnh Jasun McAvoy)
Rhodochrosite (Nam Phi), kt 10cm:
Rhodochrosite (Mỹ, colorado):
Tuamalin và thạch anh (Mỹ, California):
Canxit và Beryl (khoáng beryl màu xanh còn gọi là ngọc lục bảo, canxit màu trắng) (Mỹ, Bắc Carolina):
Canxit Beryl (Colombia):

(ảnh Simon Yunis Sucesores)

(Rob Lavinsky)
Quặng Beryl:
Cũng ở Colombia, điều đặc biệt là hóa thạch không tạo bởi silicat (thông thường) mà bởi Beryl:

(Ảnh Fabre Minerals)
Quặng Beryl xen kẽ loại quặng khác (trapiche) thành hình nan quạt:
Azurite (Mỹ, Arizona)
Neptunite và Natrolite
Neptunite (Mỹ, california):

(Rob Lavinsky)

(Fabre Minerals)