Tiếp theo và hết.
9. Về cách phát âm, một vấn đề không thể không nói tới là ngữ điều. Trong một văn bản tiếng Việt, các câu đều phải mang ngữ điệu tiếng Việt và tuân theo những quy luật có liên quan đến trọng âm của tiếng Việt. Đó là điều có tính nguyên tắc trong bất cứ thứ tiếng nào khi trong văn bản có từ ngoại quốc. Do đó một tên như Moskva phải đọc là “moskva” chứ không phải là “maskva”, vì cách phát âm o chuyển thành a là một quy tắc có liên quan đến vị trí của trọng âm trong tiếng Nga, chứ không phải trong tiếng Việt (không có một thứ tiếng nào trên thế giới viết o của Moskva là “a” cả).
Có một phát thanh viên của đài truyền hình hễ gặp một tên ngoại quốc là đổi sang giọng ngoại quốc, kể cả trọng âm lẫn ngữ điệu. Chẳng hạn Alabama được đọc là Éé-lờ-béé-mờ, London thì đọc là Lắn-đả-ản (khi có dấu phẩy phía sau), trong khi cách đọc tên nước ngoài tự nhiên nhất trên một văn bản tiếng Việt là đọc như thể không có dấu thanh (chẳng hạn như (Alabama, Lanđơn hay Lănđân) và đọc như có dấu sắc trên các vấn khép có âm cuối –p, -t, -c, hay –s, -f, -r (Hópper, Rádclíff, Chésterfield, Kárl Márx). Cũng có thể giữ trọng âm của nguyên ngữ bằng cách kéo dài âm tiết có trọng âm ra một chút (chứ không phải cao giọng lên như có thanh sắc), chẳng hạn như Alabama, Chaikoovski, Warszaawa [var’ava]. Những vần có âm tiết mở (không có phụ âm khép đi sau, như a, trong Croatya (gồm có ba âm tiết c rô-a-tya) thì không có lý do gì để đọc như có dấu sắc (như hầu hết các phát thanh viên hiện nay đều đọc: Croát-chi-a).
Cuối cùng, cũng không thể không nói gì về cách đọc hai tiếng Việt Nam, tên của nước ta, trong văn bản ngoại ngữ, nhất là trong văn bản tiếng Anh. Ngay từ sau Cách mạng Tháng Tám, trong những buổi phát sóng đầu tiên của Đài Tiếng nói Việt Nam, đã không có sự nhất trí trong cách phát âm hai tiếng này giữa các phát thanh viên. Có người đọc các nguyên âm và phụ âm như trong tiếng Việt nhưng bỏ dấu thanh điệu, có người thay luôn một số âm, như đọc “iê” (trong tiếng Việt vốn đọc là [i٨] hay [iə] như trong vần “ia”) thành [ie] hay [je] như trong tiếng Pháp (khi đọc tiếng Anh thì không phải thay như thế, vì tiếng Anh sẵn có âm [iə] không khác tiếng Việt bao nhiêu). Nhưng một số phát thanh viên, không biết tại sao, thấy cần thay cách đặt trọng âm chuẩn của tiếng Việt (nhấn mạnh chữ Nam) bằng cách nhấn thật mạnh chữ Việt và nhược hóa chữ Nam thành [n٨m] (gần như “nầm”). Cách phát âm này cũng được một số người ngoại quốc bắt chước – tuy những người biết tiếng Việt hay có tiếp xúc ít nhiếu với người Việt không mấy khi làm như vậy. Rồi đến lượt một số người Việt lại bắt chước những người ngoại quốc ấy mà đánh trọng âm thật mạnh vào chữ Việt và nhược hóa chữ Nam, trong khi lẽ ra phải làm ngược lại.
Cách đặt ngược trọng âm như vậy rất khó nghe, hay ít ra cũng rất thiếu tự nhiên, ngay cả đối với thính giác của người ngoại quốc. Cho nên những người đã có dịp đến Việt Nam thường có thể quan sát thấy một sự thay đổi rất rõ giữa cách phát âm hai tiếng Việt Nam khi mới đến và khi ra đi (hay sau vài tuần cư trú). Khi đã được nghe người Việt phát âm Việt Nam như thế nào rồi, họ sẽ đổi cách đánh trọng âm ngay, vì trong tiếng Anh mô hình trọng âm [01] (trọng âm đặt ở âm tiết sau) cũng không có gì xa lạ lắm, nhất là trong những từ có gốc ngoại lai (như typhoon [tai′fu:n], pioneer [,paiə’niə], carreer[kə’riə], Ceylon [sijlən], Chinook [ti’nu:k], Japan [dze’pæn], v.v…).
Có lẽ tai hại nhất của cách phát âm [‘viətnəm] là phát thanh viên từ cách phát âm đó suy ra cách phát âm chữ Vietnamese [‘viətnəmiz] khác hẳn cách phát âm chuẩn là [,viətnə’mi:z], cấu tạo theo mô hình của Chinese [tai’ni:z], Japanese [dzepæ’ni:z], Sinhalese [,sinhə’li:z].
Trong khi đó, các tên người Việt Nam được phát âm với đầy đủ các thanh điệu, làm hỏng hoàn toàn ngữ điệu của câu và do đó gây rất nhiều khó khăn chó thính năng của người nghe. Như trên kia đã nói, khi một cái tên thuộc một ngôn ngữ nhất định đã nằm trong một văn bản được đọc bằng một ngôn ngữ khác, nó phải tuân theo những quy tắc về ngữ điệu câu của ngôn ngữ ấy để giọng của câu khỏi bị nhiều và trở thành khó hiểu. Vả lại nếu không thật thạo tiếng Việt, người ngoại quốc cũng chẳng phân biệt được chút gì trong những sự khác nhau về thanh điệu. Vả lại cũng cần chú ý đến mặt mỹ học nữa. Người Việt Nam thấy chướng tai bao nhiêu khi nghe một cái tên như Éé-lờ-béé-mờ trong văn bản tiếng Việt, thì người vốn nói một thứ tiếng không có thanh điệu cũng thấy khó chịu bấy nhiêu khi nghe một cái tên mà họ đã quen hình dung là được phát âm gần như trong tiếng mẹ đẻ của họ và theo đúng những quy tắc ngữ điệu của một câu bình thường.
|