View Single Post
  #5  
Cũ 08-10-2009, 15:30
vhnga vhnga is offline
Bánh mì đen - Черный хлеб
 
Tham gia: Jun 2009
Bài viết: 76
Cảm ơn: 51
Được cảm ơn 51 lần trong 26 bài đăng
Default

(tiếp theo)
Và vào đúng vào lúc Mikhail Aleksandrovich đang kể cho nhà thơ nghe những người Astec lấy bột nặn tượng thần Vitsliputsli như thế nào, thì dưới hàng cây lipa của con đường xuất hiện một bóng người đầu tiên
Về sau, thực thà mà nói, khi sự việc đã quá muộn, nhiều cơ quan khác nhau đã đưa ra những thông báo mô tả lại hình dạng của người này. Ðem đối chiếu chúng với nhau, ta không thể không ngạc nhiên. Chẳng hạn, trong thông báo thứ nhất nói đó là một người thấp nhỏ, có răng vàng và thọt chân phải. Theo bản thông báo thứ hai thì đó là một người có thân hình đồ sộ, răng bịt bạch kim và thọt chân trái. Còn tờ thông báo thứ ba thì nói một cách ngắn gọn rằng con người này không có dấu hiệu gì đặc biệt.
Phải công nhận rằng: quả là không có một bản thông báo nào nên hồn cả!
Ðúng ra, người được mô tả không thọt chân nào hết, vóc dáng không thấp nhỏ cũng không đồ sộ, mà chỉ cao thôi. Còn về răng miệng, thì ở bên trái có bịt bạch kim, bên phải là răng vàng. Người đó mặc bộ quần áo màu xám đắt tiền, đi giày ngoại cùng màu với quần áo. Chiếc mũ bêrê xám đội lệch ngang tàng sang một bên tai, nách cắp cây can với tay cầm đen bóng khắc hình đầu chó puđel [16] . Trông bề ngoài khoảng hơn bốn mươi tuổi. Miệng hơi bị méo. Mặt cạo nhẵn nhụi. Tóc đen. Mắt phải đen, mắt trái không hiểu sao lại màu xanh. Lông mày đen, nhưng một bên cao hơn bên kia. Tóm lại: một người nước ngoài [17] !
Khi đi ngang qua chiếc ghế băng nhà thơ và ông tổng biên tập đang ngồi, vị khách nước ngoài liếc nhìn hai người, dừng lại, rồi bỗng ngồi xuống chiếc ghế băng bên cạnh, cách đôi bạn nhà văn chỉ vài bước chân.
“Người Ðức“, Berlioz nghĩ thầm.
“Người Anh“, Bezdomnưi thầm nghĩ. „Chà, ông ta đi găng tay mà không cảm thấy nóng”!
Ông khách nước ngoài đưa mắt nhìn những ngôi nhà cao tầng bao quanh hồ, và có thể nhận thấy rõ là ông ta đến đây lần đầu tiên nên tỏ ra rất thú vị với cảnh vật xung quanh.
Ông ta nhìn một lúc lên các tầng nhà phía trên với những tấm cửa kính chói chang phản chiếu ánh nắng của vầng mặt trời sắp vĩnh viễn rời bỏ Mikhail Aleksandrovich, rồi chuyển ánh mắt xuống phía dưới thấp, nơi những ô cửa sổ bắt đầu tối sẫm trong ánh hoàng hôn, không hiểu vì sao cười khẩy với vẻ bao dung, mắt nheo nheo, hai tay đặt lên chiếc can, cằm kê lên tay.
„Ivan này“, Berlioz nói, “anh mô tả rất hay và đầy hài hước, lấy thí dụ, đoạn nói về sự sinh ra của Giesu, con Ðức Chúa Trời. Nhưng cái mấu chốt là ở chỗ trước Chúa Giesu đã sinh ra hàng loạt những Ðức Chúa Con khác, chẳng hạn như thần Attit của người Phrighia [18] . Tóm lại, chẳng một ai trong số họ đã được sinh ra cả, không hề có họ tồn tại, kể cả Giesu, cho nên thay vào sự ra đời của Chúa hoặc sự xuất hiện của các thầy pháp [19] , anh cần phải mô tả những tin đồn ngớ ngẩn về những chuyện đó... Nếu không, theo câu chuyện của anh, thì Giesu quả đã được sinh ra thật!...”
Bấy giờ Bezdomnưi đang nín thở để cố gắng chấm dứt những tiếng nấc cụt, nhưng vì thế mà anh càng nấc lên một cách khó chịu và to hơn; và cũng vào lúc đó Berlioz ngừng lời, vì người khách nước ngoài bỗng đứng lên và đi lại phía họ.
Hai nhà văn ngạc nhiên nhìn ông ta.
„Xin các ngài thứ lỗi cho tôi“, người khách nói giọng nước ngoài lơ lớ nhưng phát âm không sai, “vì rằng tôi, trong khi chưa quen biết, đã dám mạo muội... nhưng đề tài câu chuyện bác học của các ngài thú vị đến nỗi...”
Nói đến đó, ông ta lịch thiệp bỏ chiếc mũ bêrê ra khỏi đầu, và hai người bạn của chúng ta không còn cách nào khác ngoài việc đứng dậy nghiêng mình đáp lễ.
“Không, ông ta là người Pháp thì đúng hơn“, Berlioz nghĩ thầm.
“Có lẽ người Ba Lan?...” Bezdomnưi thầm nghĩ.
Cần phải nói thêm rằng, ngay từ những lời đầu tiên, người khách nước ngoài đã gây cho nhà thơ một ấn tượng khó chịu; còn Berlioz thì lại thích, hay nói đúng hơn, không hẳn là thích, mà... biết diễn đạt thế nào nhỉ... có thể nói là tò mò.
„Cho phép tôi cùng ngồi với các ngài chứ ạ?„ người nước ngoài lễ phép hỏi, và hai nhà văn, không hiểu sao, bất giác dịch ra hai bên; ông khách khéo léo ngồi lọt vào giữa họ và lập tức bắt chuyện:
„Nếu như tôi nghe không nhầm, thì ngài vừa nói rằng chưa bao giờ có Giesu ở trên đời này phải không ạ?„ vị khách ngoại quốc hướng con mắt bên trái màu xanh lục của mình về phía Berlioz và hỏi.
„Không, ngài nghe không nhầm đâu“, Berlioz lịch thiệp đáp. „Ðúng là tôi có nói như thế.”
„Ồ thú vị quá nhỉ!„ người khách thốt lên.
“Ông ta cần cái quỷ quái gì đây?” Bezdomnưi nghĩ thầm, mặt cau lại.
„Thế ngài đồng ý với điều đó chứ ạ?„ ông khách lạ quay sang phải hỏi Bezdomnưi.
„Một trăm phần trăm!„ Nhà thơ, vốn thích diễn đạt văn hoa và hình tượng, đáp.
„Tuyệt quá!„ vị khách không mời thốt lên, và không hiểu sao ông ta lấm lét nhìn quanh, hạ thấp giọng xuống, nói tiếp: „Xin bỏ quá sự bất nhã của tôi, nhưng tôi hiểu, là các ngài, ngoài những chuyện khác, lại còn không tin Chúa nữa phải không ạ?„ ánh mắt lộ vẻ sợ hãi, ông ta nói tiếp: „Tôi xin thề là sẽ không nói với ai cả đâu.”
„Vâng, chúng tôi không tin Chúa“, hơi mỉm cười trước vẻ sợ hãi của vị khách du lịch, Berlioz đáp, “nhưng về điều này có thể nói hoàn toàn công khai.”
Người nước ngoài ngả lưng lên thành ghế băng và hỏi, giọng thậm chí rít lên the thé vì tò mò:
„Các ngài là những người vô thần?”
„Vâng, chúng tôi là những người vô thần“, Berlioz mỉm cười đáp, còn Bezdomnưi cau có nghĩ thầm: “Cái con ngỗng ngoại quốc này cứ bám lấy mãi!”
„Ồ, tuyệt vời quá!„ vị khách nước ngoài kỳ lạ kêu lên và quay đầu hết nhìn nhà văn này đến nhà văn khác.
„Ở đất nước chúng tôi, chủ nghĩa vô thần không còn làm ai ngạc nhiên nữa“, Berlioz nói một cách lịch thiệp theo kiểu ngoại giao. „Phần lớn nhân dân chúng tôi đã từ lâu tự giác không tin vào những câu chuyện hoang đường và Chúa nữa rồi.”
Ðến đây người khách nước ngoài bỗng làm một trò như sau: ông ta đứng dậy bắt chặt tay viên tổng biên tập đang ngơ ngác, và nói:
„Xin phép được chân thành cám ơn ngài!”
„Vì sao ngài lại cám ơn anh ấy?„ Bezdomnưi nhấp nháy mắt, hỏi.
„Vì ngài đây đã cung cấp một tin tức cực kỳ quan trọng, mà đối với tôi, một người du lịch, là vô cùng thú vị“, ông khách nước ngoài kỳ quặc giơ một ngón tay lên đầy hàm ý và giải thích.
Cái tin quan trọng đó có lẽ quả thật đã gây một ấn tượng rất mạnh đối với vị khách du lịch, vì ông ta sợ hãi đưa mắt nhìn khắp các ngôi nhà, dường như lo lắng sẽ phải thấy trong mỗi ô cửa sổ một người theo chủ nghĩa vô thần.
“Không, ông ta không phải người Anh...” Berlioz nghĩ thầm; còn Bezdomnưi thầm nghĩ: “Không hiểu ông ta học nói tiếng Nga ở đâu như thế, điều này mới là thú vị!” và lại cau mặt.
„Nhưng xin phép được hỏi các ngài“, sau một lúc ngẫm nghĩ căng thẳng, vị khách ngoại quốc lên tiếng, “thế phải làm sao đây với những bằng cứ về sự tồn tại của Chúa, mà như chúng ta biết, có cả thảy đến năm bằng cứ [20] như vậy.”
„Ồ“, Berlioz đáp với vẻ thương hại, “nhưng không có một bằng cứ nào đáng giá hết, nhân loại đã từ lâu đem chúng xếp vào viện lưu trữ rồi. Bởi vì, chắc ngài cũng đồng ý rằng, trong lĩnh vực trí tuệ thì không thể có một bằng cứ nào về sự tồn tại của Chúa cả.”
„Ðúng quá! „người nước ngoài kêu lên. „Ðúng quá! Ngài lặp lại hoàn toàn ý kiến của ông già Immanuil [21] , người không bao giờ chịu sống yên ổn trong vấn đề này. Nhưng thật ngộ nghĩnh: ông ta đập tan tận gốc cả năm bằng cứ trên, rồi sau đó, như để chế nhạo chính bản thân, lại tự mình lập nên bằng cứ thứ sáu!”
„Bằng cứ của Kant“, viên tổng biên tập thông thái mỉm cười đáp“, cũng không có sức thuyết phục. Và chẳng phải vô cớ mà Schiler [22] nói rằng những lập luận của Kant về vấn đề này chỉ có thể thỏa mãn những kẻ nô lệ, còn Strauss [23] thì cười nhạo cái bằng cứ đó.”
Berlioz vừa nói vừa tự hỏi thầm: “Nhưng ông ta là ai nhỉ? Và tại sao ông ta lại nói tiếng Nga thạo đến thế?”
„Cái lão Kant này, vì những bằng cứ như vậy, đáng phải cho ba năm ở Solovki [24] .” Ivan Nikolaievich nổ ra hoàn toàn bất ngờ.
„Ivan!„ Berlioz bối rối nói khẽ.
Nhưng cái đề nghị bắt Kant đi Solovki không những không làm người khách nước ngoài ngạc nhiên, mà thậm chí còn làm cho ông ta thích thú.
„Ðúng thế, đúng thế!„ Ông ta hét to, và con mắt trái màu xanh lục hướng về phía Berlioz sáng lên lấp lánh. „Cho ông ta đến đấy là đúng lắm. Lần đó trong bữa ăn sáng tôi đã nói với ông ta rồi: “Thưa giáo sư, quyền là của ngài, nhưng điều ngài nghĩ ra không được ổn lắm. Nó có thể là rất thông minh, nhưng khó hiểu quá. Rồi người ta sẽ cười nhạo ngài cho mà coi”.
Berlioz trố mắt. “Nói với Kant... trong bữa ăn sáng?... Ông ta nói nhảm cái gì thế nhỉ?”, ông nghĩ.
„Nhưng có điều“, không hề bối rối trước vẻ kinh ngạc của Berlioz, người khách nước ngoài vẫn tiếp tục nói với nhà thơ, ”không thể nào bắt ông ta đến Solovki được là vì hơn một trăm năm nay [25] ông ta đã đến ở những chỗ còn xa hơn Solovki rất nhiều, và xin cam đoan với các ngài rằng không có cách nào có thể lôi ông ta ra khỏi chỗ đó được!”
„Ồ, thật đáng tiếc!„ nhà thơ hay gây sự đáp.
„Và tôi cũng lấy làm tiếc!„ Một con mắt của người khách lạ lấp lánh sáng lên, ông ta nói, rồi lại tiếp: „Nhưng có một vấn đề làm tôi băn khoăn: nếu như không có Chúa, thì ai là người điều hành cuộc sống của con người và nói chung, toàn bộ kỷ cương trật tự trên mặt đất?”
„Tự con người điều hành lấy“, Bezdomnưi giận dữ và hấp tấp trả lời cái câu hỏi, thú thật, không thực rõ ràng lắm này.
„Xin lỗi“, người lạ mặt nhẹ nhàng đáp“, để điều hành được, dù sao cũng cần phải có một kế hoạch chính xác cho ít nhất một thời hạn tương đối nào đó. Xin phép được hỏi các ngài, làm sao con người có thể điều hành được, nếu như anh ta không những không có khả năng lập kế hoạch cho một khoảng thời gian ngắn đến nực cười, cứ cho là chỉ một nghìn năm chẳng hạn, mà anh ta thậm chí còn không thể bảo đảm được cho cái ngày mai của chính mình? Và quả thật“, người lạ mặt quay sang nói với Berlioz, “ngài hãy thử hình dung rằng ngài bắt đầu điều hành, xếp đặt cuộc sống của người khác và của bản thân mình, nói chung, ngài bắt đầu cảm thấy ham thích, thì bỗng nhiên... khà... khà... khà, ngài bị bệnh xáckôm [26] phổi...” nói đến đó vị khách nước ngoài cười ngọt lịm, dường như cái ý nghĩ về xáckôm mang lại cho ông ta một khoái cảm nào đấy, “vâng, bệnh xáckôm“, nheo mắt như mèo, ông ta nhắc lại cái từ lạ tai đó, “và thế là ngài hết điều hành! Ngoài số phận của riêng chính mình, ngài sẽ không còn quan tâm đến số phận của ai khác. Những người thân bắt đầu nói dối ngài, và ngài, cảm thấy có điều gì bất ổn, vội vàng chạy bổ đến các bác sĩ danh tiếng, rồi đến bọn người lừa đảo, thậm chí có thể đến cả bọn lang băm thầy bói. Nhưng tất cả những cái đó đều hoàn toàn vô nghĩa, chính ngài cũng hiểu như vậy. Và rồi một kết cục bi thảm: cái người mà chỉ vừa mới đây còn cho rằng mình điều hành một cái gì đó, giờ bỗng nằm bất động trong hòm gỗ, và những người xung quanh hiểu rằng người vừa nằm xuống chẳng còn được tích sự gì, liền đem đi hỏa thiêu. Ðôi khi lại còn tệ hơn nữa, có người định đi đến Kislovodsk“, nói đến đây ông khách nước ngoài nheo mắt nhìn Berlioz, ”một việc tưởng như thật vặt vãnh, nhưng anh ta cũng không thể làm được, bởi vì chẳng hiểu vì sao mà lại bất thần trượt chân ngã xuống dưới bánh tàu điện! Chẳng lẽ ngài sẽ nói đấy là do anh ta tự điều hành bản thân mình? Có hợp lý hơn chăng nếu ta nghĩ rằng có một kẻ nào đó hoàn toàn khác điều hành anh ta?” và người lạ mặt phá lên cười bằng một giọng rất lạ lùng.
Berlioz hết sức chăm chú nghe câu chuyện khó chịu về bệnh xáckôm và tàu điện, và ông bắt đầu bị những ý nghĩ lo sợ ám ảnh. “Ông ta không phải người nước ngoài! Không phải người nước ngoài!„ ông nghĩ. „Một đối tượng đáng ngờ... nhưng đúng ra ông ta là ai?”
„Tôi thấy hình như ngài muốn hút thuốc?„ người lạ mặt bỗng đột ngột hỏi Bezdomnưi. „Ngài thích loại nào?”
„Chẳng lẽ ngài có nhiều loại thuốc khác nhau à?„ Nhà thơ cau có nói, anh đã hết mất thuốc lá.
„Ngài thích loại nào? „người lạ mặt nhắc lại câu hỏi.
“Nhãn hiệu chúng ta” [27] , nhà thơ cáu kỉnh đáp.
Người lạ mặt lập tức lôi từ trong túi ra một hộp thuốc lá và mời Bezdomnưi:
„Có ngay ‘Nhãn hiệu chúng ta’.”
Cả tổng biên tập lẫn nhà thơ đều sửng sốt không chỉ vì xếp trong hộp thuốc đúng là những điếu “Nhãn hiệu chúng ta”, mà còn bởi chính chiếc hộp. Nó rất đồ sộ, làm bằng vàng mười, khi mở trên nắp của nó một hình tam giác dát kim cương lấp lánh bắn ra những tia lửa xanh và trắng [28] .
Trong lúc đó, hai nhà văn có những suy nghĩ khác nhau. Berlioz nghĩ: “Không, ông ta là người nước ngoài!” Còn Bezdomnưi lại nghĩ: “Chà, quỷ tha ma bắt hắn đi!“
Nhà thơ và chủ chiếc hộp thuốc lá châm lửa hút, còn ông tổng biên tập Berlioz không nghiện thì từ chối.
“Cần phản đối lại ông ta như sau“, Berlioz nhẩm tính. „Ðúng là con người phải chết, không ai tranh cãi để phủ nhận điều đó. Nhưng vấn đề là ở chỗ...”
Nhưng ông chưa kịp nói ra những lời trên, thì ông khách nước ngoài đã cất tiếng trước:
„Vâng, con người là phải chết, nhưng cái đó còn chưa sao. Tồi tệ nhất là đôi khi anh ta phải chết bất đắc kỳ tử, thế mới ngộ! Và nhìn chung không thể nói được là anh ta sẽ làm gì trong buổi chiều ngày hôm nay.”
“Một cách đặt vấn đề kỳ quặc thế nào ấy...” Berlioz nghĩ bụng và lên tiếng phản đối:
„Ở chỗ này ngài hơi phóng đại lên đấy. Về buổi chiều hôm nay thì tôi biết được ít nhiều chính xác. Tất nhiên, nếu như trên đường Bronnaia tôi không bị một viên gạch nào đó rơi vào đầu...”
„Gạch sẽ không bao giờ lại vô cớ rơi lên đầu ai cả“, người lạ mặt cắt ngang một cách tin tưởng. „Nói riêng thì, xin ngài cứ tin tôi, nó không hề đe dọa ngài trong bất kỳ trường hợp nào. Ngài sẽ chết một cách khác.”
„Có thể, ngài biết cụ thể là cách nào?„ Berlioz bị cuốn hút vào câu chuyện quả là kỳ quái, hỏi với một vẻ mỉa mai hoàn toàn tự nhiên. „Và ngài cho tôi biết chứ?”
„Sẵn sàng“, người lạ đáp ngay. Ông ta nhìn Berlioz từ đầu đến chân như thể ước lượng để may cho ông một bộ quần áo, rồi lẩm bẩm qua kẽ răng những từ gì đó kiểu như: “Một, hai... Thủy Tinh ở nhị thất... Mặt trăng đi khỏi... sáu bất hạnh... buổi chiều bảy...” và lớn tiếng mừng rỡ tuyên bố: „Ngài sẽ bị đầu lìa khỏi cổ!”
Bezdomnưi trố mắt nhìn người lạ mặt suồng sã một cách dữ tợn và man dại, còn Berlioz cười nhạt hỏi:
„Nhưng ai cắt? Kẻ thù? Bọn can thiệp?”
„Không“, người nước ngoài đáp, “một người đàn bà Nga, một nữ đoàn viên thanh niên cộng sản.”
„Hừm...„ khó chịu trước lối đùa như vậy của người lạ, Berlioz hầm hừ, ”nhưng xin lỗi, điều đó thật khó tin.”
„Tôi cũng xin lỗi ngài“, người nước ngoài đáp, “nhưng sự thật là như vậy. Và tôi còn muốn hỏi ngài, chiều hôm nay ngài sẽ làm gì, nếu như đó không phải là chuyện bí mật?”
„Không có gì là bí mật cả. Bây giờ tôi sẽ về nhà ở phố Sadovaia, sau đó đến mười giờ tối có cuộc họp ở MASSOLIT, tôi sẽ chủ trì cuộc họp này.”
„Không, điều đó là hoàn toàn không thể được“, người lạ mặt quả quyết tuyên bố.
„Vì sao?”
„Vì rằng“, người khách nước ngoài đáp và nheo nheo mắt nhìn lên bầu trời, nơi những con chim đen cảm thấy hơi lạnh của buổi tối đang lặng lẽ bay, “vì rằng Annuska đã mua dầu hướng dương, và không chỉ mua mà còn làm đổ ra nữa. Cho nên cuộc họp sẽ không thành.”
Ðến đây, thật dễ hiểu, giữa nhưng người ngồi dưới bóng hàng cây lipa bắt đầu một sự im lặng.
„Xin lỗi“, một lát sau, Berlioz cất tiếng, mắt không rời người khách nước ngoài vừa ba hoa những điều nhảm nhí“, nhưng tại sao lại dầu hướng dương ở đây... và Annuska nào kia?”
„Dầu hướng dương ở đây là vì“, Bezdomnưi bỗng lên tiếng, có lẽ là anh quyết định tuyên chiến với người đối thoại không mời mà đến, “ngài đã từng bao giờ ở bệnh viện tâm thần chưa?”
„Ivan!...„ Mikhail Aleksandrovich khẽ thốt lên.
Nhưng người khách nước ngoài không tự ái chút nào mà phá lên cười rất vui vẻ.
„Tôi đã ở đấy rồi, và không chỉ một lần!„ Ông ta vừa cười vừa kêu to, nhưng không rời cặp mắt khỏi mặt nhà thơ. „Còn có nơi nào mà tôi không đến! Chỉ có điều đáng tiếc là tôi quên không hỏi giáo sư bệnh sizophrenia [29] là gì thôi. Cho nên tự ngài hãy tìm hiểu lấy qua ông ta, Ivan Nikolaievich nhé?”
„Làm sao mà ngài biết tên tôi?”
„Ôi, Ivan Nikolaievich, thử hỏi ai mà lại không biết ngài?„ Nói xong, người khách nước ngoài rút từ trong túi ra tờ “Báo văn học” ngày hôm qua, và Ivan Nikolaievich trông thấy trên trang nhất bức ảnh bán thân, phía dưới là bài thơ của mình. Nhưng cái bằng cứ của vinh quang và nổi tiếng hôm qua còn làm nhà thơ vui mừng thì bây giờ không làm anh mừng chút nào.
„Tôi xin lỗi“, nhà thơ nói, mặt anh tối sầm lại, “ngài có thể đợi tôi một phút được không? Tôi muốn nói riêng với đồng chí này vài lời.”
„Ồ, rất vui lòng!„ người lạ mặt thốt lên. „Ở đây, dưới bóng những cây lipa này, thích đến nỗi tôi, xin thú thật, không vội đi đâu cả.”
„Anh Mikhail này“, kéo Berlioz ra một quãng xa, nhà thơ thì thầm“, hắn ta không phải khách du lịch đâu, gián điệp đấy. Hắn là dân Nga lưu vong bây giờ lại mò về đây. Anh hỏi giấy tờ hắn đi, không hắn chuồn mất đấy...”
„Anh nghĩ thế ư?„ Berlioz lo lắng thì thầm hỏi lại, nghĩ bụng: “Mà có lẽ đúng thế thật!”
„Anh hãy tin tôi“, nhà thơ ghé sát tai Berlioz và nói bằng giọng khàn khàn, “hắn giả đò làm bộ ngớ ngẩn để do thám đấy. Anh nghe hắn ta nói tiếng Nga như thế nào không“, nhà thơ vừa nói vừa liếc mắt theo dõi để kẻ lạ mặt không lủi mất, “ta đến giữ hắn lại đi...”
Và nhà thơ túm lấy tay áo Berlioz kéo đến bên ghế băng. Người lạ mặt không còn ngồi mà đang đứng bên cạnh chiếc ghế, tay cầm cuốn sổ nhỏ bìa xám thẫm, chiếc phong bì dày bằng giấy tốt và tấm danh thiếp.
„Xin lỗi các ngài, vì mải sôi nổi tranh luận, tôi quên tự giới thiệu với các ngài. Ðây là danh thiếp và hộ chiếu của tôi, đây là giấy mời tôi đến Moskva với tư cách chuyên gia“, người lạ mặt nói một cách quả quyết, ánh mắt sắc nhọn nhìn xuyên suốt hai nhà văn.
Hai người bối rối. “Quỷ quái thật, ông ta đã nghe thấy hết“, Berlioz nghĩ và bằng một cử chỉ lịch thiệp tỏ ý là không cần phải trình giấy tờ làm gì. Trong khi người nước ngoài chìa hộ chiếu cho tổng biên tập, nhà thơ đã kịp đọc thấy trên đó từ “giáo sư” viết bằng tiếng nước ngoài và chữ cái đầu tiên của họ ông ta „chữ V đúp [30] .
„Rất hân hạnh“, lúc đó, viên tổng biên tập lúng túng đáp, và người khách nước ngoài nhét các thứ giấy tờ vào túi.
Như vậy là quan hệ đã được lập lại, và cả ba người ngồi xuống ghế.
„Ngài được mời đến chỗ chúng tôi làm chuyên gia ư?„ Berlioz hỏi.
„Vâng, làm chuyên gia.”
„Ngài là người Ðức?„ Bezdomnưi hỏi.
„Tôi ấy à?...„ giáo sư hỏi lại và bỗng trầm ngâm nghĩ ngợi. „Vâng, người Ðức...„ ông ta đáp.
„Ngài nói tiếng Nga thạo lắm“, Bezdomnưi nhận xét.
„Ồ, nói chung tôi là người đa ngữ, biết rất nhiều thứ tiếng“, giáo sư đáp.
„Chuyên môn ngài là gì ạ?„ Berlioz hỏi.
„Tôi là chuyên gia về hắc ma thuật» [31]
“Thế đấy?...” đầu Mikhail Aleksandrovich như va vào một cái gì đó.
„Và... và người ta mời ngài đến nước chúng tôi với tư cách là chuyên gia của môn đó?„ ông lắp bắp hỏi.
„Vâng, đúng thế“, giáo sư khẳng định và giải thích: „ở đây trong thư viện quốc gia người ta phát hiện ra những bản thảo nguyên gốc của nhà ma thuật Gerbert Avrilac [32] thế kỷ thứ mười. Vì thế họ mời tôi đến phân tích. Tôi là chuyên gia duy nhất trên thế giới.»
„À! Ngài là nhà sử học?„ Berlioz hỏi với vẻ nhẹ nhõm và kính trọng.
„Tôi là người nghiên cứu lịch sử“, giáo sư đáp và nói thêm chẳng ăn nhập vào đâu cả. „Tối nay ở Hồ Pat'riarsi sẽ có một câu chuyện rất thú vị. » [33]

( còn tiếp)
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
huong duong (20-08-2010)